|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2023/HSST Ngày: 23/10/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Đức Dũng
2. Bà Lại Thị Thúy Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 109/2023/TLST - HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 112/2023/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Bích N
, sinh năm 1986 tại Cà Mau. Tên gọi khác: không;
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: 46 Q, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: bán vé số; Trình độ văn hoá (học vấn): không biết chữ; Dân tộc: kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lư Văn Đ, sinh năm 1963 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1963 (còn sống); Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình và có 01 người con sinh năm 2001; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 29/9/2022, bị Công an thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “tụ tập nhiều người ở nơi công cộng gây mất trật tự công cộng”; Nhân thân: Ngày 14/9/2010, bị Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tuyên phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 151/HSST. Ngày 15/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai tuyên phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tổng hợp hình phạt từ bản án số 151/HSST ngày 14/9/2010 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu là 01 năm 6 tháng tù theo bản án số 30/HSST.
1
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/7/2023 và tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện C cho đến nay.
(bị cáo có mặt tại phiên tòa)
* Người bị hại: Anh Lê Quang H, sinh năm 1986 (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Lê Thị Mộng T, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Địa chỉ: 1 N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm 1993 (vắng mặt).
Địa chỉ: C Q, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 giờ, ngày 16/7/2023, bị cáo Nguyễn Thị Bích N thuê Nguyễn Thị Ngọc L sinh năm 1993, thường trú tại C, khu phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chở qua khu vực xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai để bán vé số, với giá tiền thuê từ 100.000 đồng đến 300.000 đồng thì L đồng ý điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Luvias, biển số: 65B1-140.60 chở bị cáo N. Khi đến khu vực thuộc ấp C, xã L, huyện C, bị cáo nói L dừng xe để bị cáo tự đi bộ bán vé số và nói L chạy lên phía trước chờ, khi nào bị cáo bán vé số xong sẽ gọi L chở về. Sau đó, bị cáo đi bộ dọc ven đường tỉnh lộ 765 để bán vé số, khi đi ngang nhà anh Lê Quang H, sinh năm 1986, cư trú tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai thấy nhà không có cửa cổng, cửa ra vào trong nhà mở nên bị cáo đi vào để bán vé số. Khi đi vào trong nhà, bị cáo thấy anh H đang ngủ trên võng nên đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A11 để trên thành giường đặt trong gian phòng lồi chữ L, bên trong ốp điện thoại có tờ tiền 20 USD (hai mươi Đ1-la Mỹ) bỏ vào túi áo bên trái. Sau đó, bị cáo tiếp tục quan sát, thấy trên chiếc kệ gỗ trong phòng ngủ thứ nhất có một chiếc ví da màu đen, bị cáo đi đến mở ví lấy số tiền 500.000 đồng bỏ vào túi áo bên trái rồi đi ra tìm L và yêu cầu L chở về nhà. Trên đường đi thì bị Công an xã L, huyện C kiểm tra bắt giữ.
Tại Kết luận giám định giá trị tài sản số 29/KL-HĐĐG ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 chiếc điện thoại di động màu đen, hiệu S1 Galaxy A11, số seri: R9JN700A28J có giá trị là 2.160.000 đồng; 20 USD (đô la Mỹ) có giá trị là 450.000 đồng.
* Vật chứng vụ án:
- + 20 tờ vé số; 01 sổ dò kết quả vé số miền N từ ngày 25/6/2023 đến ngày 15/7/2023 hiện đang tạm giữ tại chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.
- + 01 điện thoại di động hiệu S1 A11; 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD (hai mươi Đ1-la Mỹ) là tài sản hợp pháp của Lê Quang
2
H, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho anh H.
- + Số tiền 840.000 đồng là tài sản hợp pháp của bị cáo N, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho N.
- + 01 điện thoại di động hiệu Oppp A5S là tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị Ngọc L, không liên quan đến hành vi phạm tội, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị L.
- + 01 xe mô tô biển số 65B1-140.60, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 008141. Quá trình điều tra xác định xe mô tô trên do chị Trần Lê Thị Mộng T, sinh năm 1987, thường trú tại 11/6, Ngô Văn S, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ mua và đứng tên chủ sở hữu. Năm 2014, Nguyễn Thị Ngọc L mua lại chiếc xe trên từ chị T để sử dụng nhưng không làm thủ tục sang tên nên đã vi phạm vào khoản 7, Điều 30 Nghị định 100/2019/NĐ - CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt. Cơ quan CSĐT đã chuyển toàn bộ hồ sơ kèm theo xe mô tô trên đến Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện C xử lý theo quy định.
* Về trách nhiệm dân sự: Anh Lê Quang H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm.
Cáo trạng số 105/CT- VKSCM ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích N về tội “Trộm cắp tài sản”, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; bị cáo không biết chữ nên khả năng hiểu biết pháp luật cũng bị hạn chế. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Trộm cắp tài sản”, áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s, h khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo N mức án từ 06 tháng đến 08 tháng tù giam.
Phần trách nhiệm dân sự anh H đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường về dân sự nên đề nghị không xem xét.
Vật chứng vụ án: 20 tờ vé số; 01 sổ dò kết quả vé số miền N từ ngày 25/6/2023 đến ngày 15/7/2023, không còn giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng còn lại đã xử lý phù hợp quy định của pháp luật nên đề nghị không xem xét.
Đối với Nguyễn Thị Ngọc L không biết bị cáo N thực hiện hành vi phạm tội nêu trên nên không phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình. Phần tranh luận bị cáo đồng ý với mức án Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo tại
3
phiên tòa hôm nay. Bị cáo không tranh luận và cũng không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm về hòa nhập với xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về xác định tội phạm: Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận, khoảng 10 giờ, ngày 16/7/2023, lợi dụng lúc không có người trông coi bị cáo đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu S1 A11; 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 20 USD (hai mươi Đ1-la Mỹ) của anh Lê Quang H, trú tại ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì bị Công an xã L bắt giữ xử lý. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp của anh H theo kết luận giám định giá trị tài sản số 29/KL-HĐĐG ngày 19/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận xác định có tổng giá trị thiệt hại là 3.110.000 đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa trùng khớp với lời khai ban đầu, phù hợp với lời khai người bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ. Hành vi do bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội danh và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, cáo trạng số 105 ngày 02/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy: Bị cáo là một công dân có đầy đủ nhận thức và năng lực hành vi dân sự, bị cáo nhận thức rõ việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cho bản thân mà bị cáo vẫn bất chấp pháp luật và đã có hành vi lén lút trộm cắp tài sản của anh H. Bị cáo đã nhiều lần bị đưa ra xét xử về tội trộm cắp tài sản, đáng lẽ sau khi chấp hành xong hình phạt bị cáo phải lấy đó làm bài học để tu trí làm ăn, trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội nhưng bị cáo lại tiếp tục đi trộm cắp tài sản của người khác. Hành vi của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp gây thiệt hại đến quyền sở hữu tài sản
4
của người bị hại được pháp luật bảo vệ, mà còn gây hoang mang trong cộng đồng dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự tại địa phương.
Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã gây ra.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Bị cáo không biết chữ nên phần nào hạn chế đến khả năng nhận thức. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm s, h khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Lê Quang H đã nhận lại toàn bộ tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường về dân sự nên không đặt ra xem xét.
[6] Về vật chứng vụ án: 20 tờ vé số; 01 sổ dò kết quả vé số miền N từ ngày 25/6/2023 đến ngày 15/7/2023 không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Các vật chứng còn lại đã xử lý phù hợp quy định của pháp luật nên không xem xét.
[7] Các vấn đề khác:
- - Đối với Nguyễn Thị Ngọc L không biết bị cáo N thực hiện hành vi trộm cắp nên không phạm tội.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[8] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Bích N: 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 16 tháng 7 năm 2023.
2. Về trách nhiệm dân sự: không xem xét.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tuyên tịch thu tiêu hủy 20 tờ vé số; 01 sổ dò kết quả vé số miền N từ ngày 25/6/2023 đến ngày 15/7/2023 (vật chứng nêu trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 02/10/2023).
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/NQ - UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích N phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày tròn kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
5
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Khuyên |
6
Bản án số 105/2023/HSST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 105/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/10/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỊ BÍCH NH PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
