Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc


Bản án số: 105/2024/DS-PT

Ngày 22/7/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Quế.

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thuỷ và ông Lê Quý My

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thuỷ Ngân - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân tỉnh Thái Nguyên, mở phiên tòa xét xử công khai phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số 158/2023/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2023 về “tranh chấp quyền sử dụng đất".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 23/2023/DSST ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXX-PT ngày 19 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Chu Thị N, sinh năm 1960;
  2. Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt tại phiên toà).

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Nông Văn H, sinh năm 1976;

    Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

  3. Bị đơn: Ông Bùi Đức P, sinh năm 1980;
  4. Địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông P: Ông Nguyễn Văn T, Tư vấn viên Trung tâm T1 thuộc Viện khoa học và Chính sách.

    Địa chỉ: Số nhà F, ngõ A, đường T, quận C, thành phố Hà Nội (ông T có mặt).

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Phạm Quang H1, sinh năm 1983 (con bà N).
    2. Địa chỉ: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

    3. Anh Phạm Quang N1, sinh năm 1985 (con bà N).
    4. Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (vắng mặt).

      Người đại diện theo uỷ quyền của anh N1: Ông Nông Văn H, sinh năm 1976;

      Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt tại phiên toà).

    5. Anh Phạm Xuân K, sinh năm 1991 (con bà N).
    6. Trú tại: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có đơn xin xét xử vắng mặt).

    7. Bà Hà Thị H2, sinh năm 1980 (vợ ông Bùi Đức P)
    8. Trú tại: Tổ dân phố C, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án sơ thẩm nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Chu Thị N trình bày: Gia đình bà N đã được Ủy ban nhân dân huyện P, tỉnh Thái Nguyên cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AN 039375 ngày 03/6/2009 mang tên Chu Thị N đối với thửa đất số 497, tờ bản đồ số 53 (nay là tờ C), diện tích 82m² (đo thực tế diện tích 59,8m²) Tổ dân phố Tân Lập, xã Đ (nay là thị trấn Đ), huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Nguồn gốc đất là của gia đình bên ngoại cho từ trước đây, gia đình bà N đã quản lý sử dụng hợp pháp, ổn định, có ranh giới theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, năm 2018 ông P đã lợi dụng việc nhận chuyển nhượng một phần diện tích đất tại thửa 196 (liền kề với thửa 497) đã xây dựng lấn chiếm toàn bộ diện tích thửa 497. Bà N xác định năm 2013, do nợ nhiều nên bà có nhu cầu bán đất và ông P có nhu cầu mua đất nên bà bán thửa 196, tờ bản đồ số 36 và có để đường đi cho ông P ở thửa 498 độ rộng 1,5 mét đi ra đường bê tông với giá chuyển nhượng 250.000.000 đồng, ông P đã trả 150.000.000 đồng, còn 100.000.000 đồng ông P chưa trả. Khi chuyển nhượng thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình bà N đang ở Ngân hàng, do anh P chưa trả đủ tiền nên gia đình đã vay của ông Hồ Sỹ D để lấy giấy chứng nhận QSD đất từ ngân hàng ra và thế chấp cho gia đình ông D. Sau này anh P làm thủ tục như thế nào bà không biết. Bà xác định không có việc bà chuyển nhượng cho ông P thửa đất số 497, tờ bản đồ số 53 (nay là 36).

Nay, bà N khởi kiện yêu cầu ông Bùi Đức P tháo rỡ toàn bộ tài sản trên diện tích lấn chiếm để trả lại diện tích 82m² (thực tế là 59,8m2) thuộc thửa đất số 497, tờ bản đồ số 53 (nay là tờ C) tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cho bà.

Bị đơn: ông Bùi Đức P trình bày: Gia đình ông mua đất của bà N có giấy tờ vào năm 2013, diện tích 137,5m². Theo giấy tờ mua bán phía đông giáp mặt đường đi Đ - Ôn lương rộng 4,5m, phía Tây giáp đất gia đình bà N rộng 4,5m, phía Nam giáp đất của gia đình bà N dài 30,7m và phía Bắc giáp đất của bà N dài 30,5m. Diện tích đất này nằm trên hai thửa 497 và 196 với số tiền là 250.000.000đ, ông đã trả bà N 150.000.000đ, còn 100.000.000đ khi nào có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông trả nốt. Tuy nhiên bà N chưa làm thủ tục sang tên cho ông thì bà N đã bán cho anh Hồ Sỹ D toàn bộ thửa đất 196 (trong đó có một phần đất mà ông mua trước đó của bà N chưa làm thủ tục sang tên). Năm 2018 ông phải làm thủ tục mua lại của ông Hồ Sỹ D toàn bộ thửa 196 diện tích 288m².

Đối với thửa 497, khi ông mua diện tích 137,5m2 (theo giấy tờ mua bán) thì có một phần đất của thửa 497 để đi ra đường. Phần đất nào ông mua rồi thì ông sử dụng, còn phần đất nào gia đình ông không mua mà thuộc thửa 497 thì ông nhất trí trả lại cho nguyên đơn. Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • Anh Phạm Quang H1 khai: Năm 2013, do gia đình nợ nhiều nên có nhu cầu bán đất và ông P có nhu cầu mua đất nên bà bán thửa 196, tờ bản đồ số 53 và có để đường đi cho ông P ở thửa 498 độ rộng 1,5 mét đi ra đường bê tông với giá chuyển nhượng 250.000.000đ, ông P đã trả 150.000.000đ, còn 100.000.000₫ ông P chưa trả. Khi chuyển nhượng thì có 01 quán để bán bánh cuốn trên thửa 497. Anh nhất trí với ý kiến của bà N yêu cầu ông P trả lại diện tích 82m² (thực tế là 59,8m²) thuộc thửa đất số 497, tờ bản đồ số 53 tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
  • Anh Phạm Quang N1 khai: Năm 2009, gia đình bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 497, tờ bản đồ số 53, đến nay gia đình chưa chuyển nhượng cho ông P bất kỳ diện tích nào thuộc thửa 497, anh N1 không ký bất kỳ giấy tờ gì với ông P liên quan đến thửa 497. Anh N1 nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà N.
  • Bà Hà Thị H2 khai: Bà là vợ ông P, gia đình bà có mua của bà Chu Thị N một thửa đất với giá chuyển nhượng 250.000.000đ, gia đình bà đã trả

150.000.000đ, còn 100.000.000₫ chưa trả vì khi nào bà N giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì gia đình bà sẽ trả nốt số tiền. Gia đình bà đã nhiều lần yêu cầu bà N giao giấy chứng nhận nhưng bà N không giao mà đã thế chấp cho ông D và đến năm 2018 gia đình bà đã tự lấy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về và làm thủ tục sang tên gia đình bà. Số đất còn lại thuộc thửa đất số 497, diện tích 82m² thì gia đình bà có một phần ở diện tích đất này vì gia đình bà đã mua của bà N (có giấy tờ chuyển nhượng). Nay bà nhất trí với ý kiến của ông P không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.

Với nội dung nêu trên, tại bản án 23/2023/DSST ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên đã xét xử và quyết định:

Căn cứ các Điều 5; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 146, 147, 156, 157, 158, 164, 165, 166, 171, 173, 210, 211, 225, 227, 236, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điểu 170 Bộ luật dân sự năm 2005; Căn cứ Điều 105 và Điều 107 Luật Đất đai năm 2003; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Bùi Đức P.
    • Buộc ông Bùi Đức P và bà Hà Thị H2 trả lại diện tích đất tranh chấp đo thực tế là 59,8m² đất tại thửa đất số 497, tờ bản đồ số 53 (nay là tờ C), bản đồ địa chính thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên cho bà Chu Thị N.
    • Sơ đồ chỉ giới gồm các điểm A, B, C, 4, F, 1, G, H, A (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).

    • Buộc ông Bùi Đức P và bà Hà Thị H2 tháo dỡ toàn bộ công trình, tài sản trên diện tích đất lấn chiếm gồm: diện tích mái tôn 23,5m² (vị trí các điểm B, C, 4, 2, 3, B), diện tích 6,6m² (vị trí các điểm F, 1, 2, 4, F) và diện tích 14,3m² (vị trí các điểm A, B, 3, H, A). (có sơ đồ chi tiết kèm theo)
    • Buộc ông P bà H2 phải trả lại toàn bộ tài sản trên diện tích đất 15,4m² (vị trí các điểm H, G, 1, 2, 3, H) cho bà Chu Thị N. (có sơ đồ chi tiết kèm theo)
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí thẩm định và định giá là 10.300.000 đồng (trong đó chi phí thẩm định: 7.300.000 đồng, chi phí định giá: 3.000.000 đồng). Do yêu cầu của Nguyên đơn

được chấp nhận nên ông P, bà H2 phải chịu toàn bộ chi phí này để trả lại cho nguyên đơn.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo cho các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 24/11/2023 ông P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị cấp phúc thẩm huỷ bản án sơ thẩm. Tại phiên toà phúc thẩm ông P thay đổi kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông sửa bản án sơ thẩm. Bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên toà phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát phát biểu về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà và Hội đồng xét xử từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi nghị án đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của ông P sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà N, dành quyền khởi kiện cho bà N bằng vụ kiện khác nếu có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng giữa bà N và vợ chồng ông Hồ Sỹ D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và nghe lời trình bày của các đương sự; Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Nguyên, Hội đồng xét xử nhận xét:

  1. Về nguồn gốc thửa đất đang tranh chấp giữa bà Chu Thị N và ông Bùi Đức P thì các bên đương sự đều xác định là thửa đất số 497, tờ bản đồ số 53 (nay là tờ bản đồ số 36) địa chỉ thửa đất tại tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên có nguồn gốc của bà N và bà N đã được UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 03/6/2009. Chỉ khác phía nguyên đơn bà N khởi kiện cho rằng bà chỉ bán cho ông P một phần thửa đất số 196 không bán thửa số 497 cho ông P, còn ông P thì cho rằng bà N đã bán cho ông năm 2013 một mảnh đất có chiều dài, rộng cụ thể, diện tích 137,5m² nhưng chưa làm được thủ tục cấp bìa đỏ thì năm 2014 bà N do vay nợ tiền của ông Hồ Sỹ D không trả được lại tiếp tục bán cho ông D cả thửa số 196 diện tích 288m² và ông D đã được cấp bìa đỏ thì lúc này ông mới biết là bà N bán cả diện tích ông đã mua của bà N cho ông D và ông đã bỏ tiền ra mua lại của ông D toàn bộ thửa 196. Như vậy diện tích 137,5m² ông đã phải mua hai lần, một lần của bà N năm 2013 và một lần mua của ông D năm 2018 và ông đã được cấp bìa đỏ thửa 196 diện tích 288m², do vậy ông không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N vì bà N đã bán cho ông và bán cho ông D hết diện tích 288m² đất của thửa 196 và thửa 497 của bà N.
  2. Xét kháng cáo của ông P thấy rằng: Nguồn gốc thửa đất số 196 và thửa đất số 497 là thửa đất số 201b, tờ bản đồ số 3, diện tích 288m² là đất thổ cư của bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/01/1995. Năm 2009 bà N tách 82m² trong tổng số 288m² của thửa số 196 thành thửa mới là thửa 497 loại đất trồng cây hàng năm khác và bà N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa số 497, diện tích 82m² (BL số 71).
  3. Ngày 28/8/2013 bà N viết giấy chuyển nhượng đất thổ cư cho ông P 137,5m² giá 250.000.000đ hai bên đã giao nhận tiền và đã cắm mốc giới. Căn cứ vào giấy chuyển nhượng đất thổ cư ngày 28/8/2013 thì thể hiện đất chuyển nhượng cho ông P có chiều mặt đường (đường nhựa áp phan) theo hướng Đông trục đường Ô đi T rộng 4,5m, chiều sâu 30,7m. Căn cứ vào kết quả đo đạc của Công ty Cổ phần T2 thì có kích thước theo hướng Đông trục đường Ô đi T rộng là 4,26m, chiều sâu 26,9m. Như vậy bà N đã chuyển nhượng cho ông P một phần đất của thửa 497 và một phần đất của thửa 196 của bà N cho ông P thì ông P mới có đường đi ra mặt đường nhựa áp phan như bây giờ, bởi vì diện tích còn lại 3 phía đều giáp đất của bà N và bà N đang sử dụng. Thực tế cả chiều rộng mặt đường lẫn chiều sâu ông P đang sử dụng còn thiếu hụt so với giấy chuyển nhượng mà bà N viết ngày 28/8/2013 cho ông P. Bà N chưa làm thủ tục tách thửa để ông P được cấp quyền sử dụng đất thì năm 2016 bà N lại chuyển nhượng diện tích còn lại của thửa 196 và thửa 497 cho ông Hồ Sỹ D và chuyển nhượng luôn cả diện tích 137,5m² đất mà bà N đã chuyển nhượng cho ông P năm 2013, đây là việc làm không đúng pháp luật của bà N (BL 74). Ông Hồ Sỹ D đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và ngày 25/7/2018 vợ chồng ông D chuyển nhượng thửa số 196 này cho vợ chồng ông P. Như vậy ông P phải mua lại chính diện tích đất 137,5m² của ông đã mua với bà N năm 2013 (BL 109). Hiện trạng ông P đang sử dụng 291,5m² đất có lấn sang thửa số 197 là 4,2m². Chủ sử dụng thửa đất 197 và ông P tự giải quyết nếu không các bên có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác. Việc bà N cho rằng ông P sử dụng thửa đất số 196 có lấn sang thửa đất số 497 của bà N là không có căn cứ vì ông P nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông D, vợ chồng ông D nhận chuyển nhượng của bà N. Nếu bà N không chuyển nhượng cho ông D phần đất còn lại của thửa 497 của mình thì bà N có thể khởi kiện vợ chồng ông D bằng vụ án khác. Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là không phù hợp cả về lý lẫn tình, do vậy cần chấp nhận kháng cáo của ông P sửa bản án sơ thẩm, bác yêu cầu khởi kiện của bà N. Lời đề nghị của Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp bị đơn đề nghị

Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn và bác đơn khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

  1. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí thẩm định và định giá sơ thẩm 10.300.000đ (mười triệu, ba trăm nghìn đồng). Do yêu cầu của Nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn bà N phải chịu toàn bộ chi phí này và đã chi phí xong. Chi phí thẩm định lần hai hết 7.000.000₫ (bẩy triệu đồng) bị đơn ông P tự nguyện chịu và đã chi phí xong.
  2. Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng nguyên đơn bà N là người cao tuổi nên miễn án phí cho bà N. Trả lại cho bà N 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008004 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương. Bị đơn ông P không phải chịu án phí phúc thẩm được trả lại số tiền tạm ứng án phí phúc thẩm.
  3. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh chấp nhận kháng cáo của ông P bác đơn khởi kiện của bà N là phù hợp, có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 105 và Điều 107 Luật Đất đai năm 2003; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Đức P sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DSST ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

  1. Bác yêu cầu khởi kiện của bà Chu Thị N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất đối với ông Bùi Đức P. Dành quyền khởi kiện cho bà N bằng vụ kiện khác nếu có tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà N với vợ chồng ông Hồ Sỹ D (có sơ đồ kèm theo bản án).
  2. Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Tổng chi phí thẩm định và định giá tài sản 10.300.000đ (mười triệu, ba trăm nghìn đồng) Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn bà N phải chịu toàn bộ chi phí này, bà N đã nộp và đã chi phí xong. Về chi phí đo đạc lần hai hết 7.000.000đ (bẩy triệu đồng), bị đơn tự nguyện chịu và đã chi phí xong.
  3. Về án phí:
    • Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí sơ thẩm cho bà Chu Thị N. Bà N được trả lại 5.000.000đ (năm triệu đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm theo biên lai thu

số 0008004 ngày 25/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

    • Về án phí phúc thẩm: Ông Bùi Đức P không phải chịu án phí phúc thẩm, được trả lại 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số 0004437 ngày 04/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND huyện Phú Lương;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Chi cục THADS huyện Phú Lương;
  • - UBND huyện Phú Lương;
  • - UBND thị trấn Đu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ; Tòa dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Quế

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/DS-PT ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 105/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của ông Bùi Đức Phương sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2023/DSST ngày 13 tháng 11 năm 2013 của Toà án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger