Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KẾ SÁCH

TỈNH SÓC TRĂNG

Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22 – 7 – 2024

V/v Ly hôn và nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Vinh Thắng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Chị Tăng Thị Bạch Vân;
  • Chị Huỳnh Khiết Như.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Luyến-Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Lâm Bích Ngọc-Kiểm Sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 114/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2024, về việc Ly hôn và nuôi con, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 263/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 20 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 208/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Cẩm T, sinh ngày 12/10/2002, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang.

- Bị đơn: Anh Lê Văn T1, sinh ngày 18/4/1997, địa chỉ: Ấp H, xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo Đơn khởi kiện ngày 15/4/2024 và các tài liệu chứng cứ khác trong quá trình giải quyết vụ án:

-Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T trình chịy:

Chị và anh Lê Văn T1 cưới nhau vào năm 2017, trước khi cưới cả hai có tự tìm hiểu nhau được vài tháng thì đã tổ chức cưới. Sau đó có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện K, tỉnh Sóc Trăng. Cuộc sống hôn nhân giữa chị và anh T1 không có hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên cải vã nhau liên tục. Nguyên nhân do bản tính của anh T1 quá khó khăn, gia trưởng lại còn thường xuyên ăn chơi, cờ bạc, rượu chè, sống thiếu trách nhiệm với gia đình, vợ con, anh T1 làm được bao nhiêu thì sử dụng vào mục đích ăn chơi. Còn việc gia đình, con cái, kể cả khi con đau bệnh, anh T1 không có trách nhiệm, giao hết cho chị tự lo.

Trong thời gian qua, chị rất đau khổ, nhưng vì nghĩ thương các con còn nhỏ dại, và nghe lời cha mẹ, anh chị em khuyên bảo. Nên chị cố gắng cam chịu, khuyên nhũ và cho anh cơ hội. Hy vọng về sau anh sẽ sửa đổi, từ bỏ việc ăn chơi, cờ bạc, cố gắng lo làm ăn, để cùng chị níu kéo lại tình cảm và lo xây dựng hạnh phúc về sau. Nhưng suốt thời gian dài, anh T1 chỉ hứa cho qua chuyện, sau đó vẫn tiếp tục ăn chơi, rượu chè, sống thụ hưởng cá nhân ngày càng nhiều hơn trước, thậm chí anh còn sử dụng chất ma túy và phải đi cải tạo.

Đến nay xét thấy chị không thể nào chấp nhận và bỏ qua việc sống vô trách nhiệm của anh đối với mẹ con chị. Mặc khác chị nghĩ rằng anh T1 sẽ không từ bỏ được việc ăn chơi, cờ bạc của anh về sau. Nếu cam chịu để cùng anh tiếp tục chung sống thì chị sẽ không có hạnh phúc và tương lai.

Nên chị T yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

  • - Về hôn nhân: Xin được ly hôn với anh T1.
  • - Về con chung: Quá trình hôn nhân giữa chị và anh T1 là đã có chung với nhau 02 đứa con (01 trai; 01 gái) gồm: Lê Hải Đ, sinh ngày 27/11/2018, hiện đang sinh sống cùng với anh T1 và Lê Nguyễn Thảo M, sinh ngày 25/10/2022, hiện đang sinh sống cùng với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Thảo M, đồng ý giao cháu Đ cho anh T1 nuôi dưỡng; Không ai phải cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Lê Văn T1 không tham gia tố tụng và không có ý kiến gì trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

*Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Kế Sách cho rằng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa, nguyên đơn không rút lại đơn khởi kiện, các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

  1. Về tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn anh Lê Văn T1, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không rõ lý do; Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Cẩm T vắng mặt, nhưng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt, cho nên, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm T và anh Lê Văn T1 tự nguyện kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng ngày 08/3/2021, nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.
  3. Xét về tình trạng hôn nhân, thấy rằng: Quan hệ hôn nhân phải được xây dựng trên cơ sở tự nguyện của hai bên. Trong thời kỳ hôn nhân, vợ chồng chị T, anh T1 xảy ra bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc; Đến thời điểm này, cả chị T và anh T1 cũng không có biện pháp nào để hàn gắn tình cảm vợ chồng mà vẫn tiếp tục sống ly thân và bỏ mặc nhau. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh T1.
  4. Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị T và anh T1 có 02 người con chung là Lê Hải Đ, sinh ngày 27/11/2018, hiện đang sinh sống cùng với anh T1 và Lê Nguyễn Thảo M, sinh ngày 25/10/2022, hiện nay đang sống chung với chị T.
  5. Theo quy định tại khoản 1 Điều 71, khoản 1 và khoản 2 Điều 81, các điều 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Cha và mẹ đều có quyền và nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên. Sau khi ly hôn, cha, mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Nếu không thỏa thuận được người trực tiếp nuôi con thì căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, Tòa án quyết định giao cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Người không trực tiếp nuôi dưỡng cũng có quyền thăm nom con sau khi ly hôn.
  6. Xét thấy, các bên không tranh chấp về việc nuôi con chung, hai cháu Thảo M và Hải Đ đã có cuộc sống ổn định bên cha, mẹ. Do đó nhằm đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống của hai cháu, nên cần tiếp tục giao cháu Đ cho anh T1 nuôi dưỡng, giao cháu Thảo M cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi các cháu đủ 18 tuổi, là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Dành quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho chị T và anh T1 không ai được ngăn cản.
  7. Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  8. Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  9. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn.
  10. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

  1. 1) Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Cẩm T được ly hôn với anh Lê Văn T1.
  2. 2) Về con chung: Giao cho anh T1 được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Hải Đ, sinh ngày 27/11/2018; giao cho chị T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Nguyễn Thảo M, sinh ngày 25/10/2022, đến khi các cháu đủ 18 tuổi; chị T và anh T1 được quyền trông nom, chăm sóc, giáo dục người con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng, không ai được ngăn cản.
  3. 3) Về cấp dưỡng nuôi con: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. 4) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  5. 5) Án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị T phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003763, ngày 03/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, chị T đã nộp xong án phí sơ thẩm.

6) Báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm, đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn này tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND huyện Kế Sách;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADSH Kế Sách (khi đã có hiệu lực);
  • - Ủy ban nhân dân xã Xuân Hòa, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Vinh Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn và nuôi con

  • Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn và nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KẾ SÁCH, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger