Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỨC LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 21 - 8 - 2024

V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.

Các hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Xuân Trường.
  2. Ông Nguyễn Đức Binh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tô Văn Liên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Tốt - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 195/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 160/2024/QĐST-HNGĐ ngày 06 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lê Thị Mỹ T, sinh năm 1987.

Nơi cư trú: Số B, đường H, khu phố B, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

2. Bị đơn: Ông Đoàn Minh T1, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: Số B, đường H, khu phố B, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa, vắng mặt nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; vắng mặt bị đơn không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Lê Thị Mỹ T trình bày: Bà và ông Đoàn Minh T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. Ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V ngày 07/6/2011, đăng ký kết hôn số 73, quyển số 01/2011. Quá trình chung sống, giữa ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, tính tình không hòa hợp; ông T1 thường xuyên uống rượu, gây gỗ, chửi bới vợ con. Từ Tết âm lịch 2024 đến nay, ông T1 đuổi bà và các con ra khỏi nhà nên hiện nay bà và các con đang phải thuê nhà ở. Bà xác định không còn tình cảm với ông T1, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, yêu cầu được ly hôn với ông T1.

Về con chung, ông bà có 02 con chung là Đoàn Thị Thu H, sinh ngày 03/5/2011 và Đoàn Minh Đ, sinh ngày 03/3/2015. Từ khi ly thân tới nay, bà là người trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung; ông T1 không phụ cấp bà nuôi con. Bà yêu cầu được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung, yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng/con. Bà hiện nay làm nghề mộc, thu nhập trung bình khoảng 8.000.000 đồng/tháng.

Về tài sản chung và nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại các biên bản xác minh ngày 04/7/2024 của bà Nguyễn Thị V, anh Lê Văn Cao T2 là mẹ, em ruột của bà T, thể hiện:

- Cuộc sống vợ chồng giữa bà Lê Thị Mỹ T và ông Đoàn Minh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn do cả hai tính tình không hoà hợp, ông T1 thường xuyên chửi bới, xúc phạm bà T. Do ông T1 đuổi ra khỏi nhà nên bà T đã thuê nhà ở, không còn ở chung với ông T1;

- Theo bà, anh, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông T1 đã thật sự trầm trọng;

- Bà T và ông T1 có 02 con chung là Đoàn Thị Thu H, sinh ngày 03/5/2011 và Đoàn Minh Đ, sinh ngày 03/3/2015. Hiện các cháu đang sống cùng với bà T tại nhà do bà thuê.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các đương sự tự thỏa thuận với nhau về các vấn đề có tranh chấp trong vụ án nhưng bị đơn không tham gia nên không thể tiến hành hòa giải được.

Ý kiến của kiểm sát viên về việc tuân thủ pháp luật và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

- Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng pháp luật.

- Về nội dung vụ án: Cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Giải quyết cho bà Lê Thị Mỹ T ly hôn ông Đoàn Minh T1. Giao cháu Đoàn Thị Thu H, sinh ngày 03/5/2011 và Đoàn Minh Đ, sinh ngày 03/3/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; buộc ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng/con, cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, quá trình giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết là ly hôn, tranh chấp về nuôi con, quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh.

Về sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn đã có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt và không có tài liệu, chứng cứ thể hiện sự vắng mặt của bị đơn là do sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn và bị đơn.

[2] Nội dung vụ án:

[2.1] Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T và ông Đoàn Minh T1 tự nguyện tìm hiểu và tiến tới hôn nhân. Ông bà có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn V ngày 07/6/2011, đăng ký kết hôn số 73, quyển số 01/2011. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, quá trình chung sống, vợ chồng ông bà phát sinh nhiều mâu thuẫn nên bà T đã yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Qua lời khai của nguyên đơn, quá trình xác minh, thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng ông bà phát sinh là do cả hai tính tình không hoà hợp, ông T1 thường xuyên chửi bới, xúc phạm bà T. Mặt khác, Tòa án đã thông báo cho ông T1 lên Tòa án tham gia hòa giải nhưng ông không tham gia, chứng tỏ ông không có ý định níu kéo cuộc hôn nhân này. Từ những phân tích trên, thấy rằng, mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã thực sự trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, vì vậy xử cho bà T ly hôn ông T1 là phù hợp.

[2.2] Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Đoàn Thị Thu H, sinh ngày 03/5/2011 và Đoàn Minh Đ, sinh ngày 03/3/2015. Thấy rằng, bà T có công việc, thu nhập ổn định, tư cách đạo đức tốt, đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; từ khi ly thân tới nay, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng các con và các con cũng có nguyện vọng được sống cùng với mẹ nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, giao 02 con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

[2.3] Về cấp dưỡng: Khoản 2 Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con”. Bà T yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng/con. Thấy rằng, mức yêu cầu cấp dưỡng của bà T là phù hợp với mức sống tại địa phương, trong khả năng tài chính của bị đơn, đủ để đảm bảo cho các con phát triển bình thường về vật chất và tinh thần. Do đó, buộc ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng/con, cho đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, bà T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong bản án này.

[3] Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà T là người khởi kiện ly hôn nên phải chịu án phí DSST về ly hôn. Ông T1 là người phải cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí DSST về cấp dưỡng.

[4] Ý kiến của Kiểm sát viên về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án và phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án là có căn cứ và phù hợp với nội dung vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, 238, 266, 271 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, 81, 82, 83, 84 và 85 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về hôn nhân: Bà Lê Thị Mỹ T ly hôn ông Đoàn Minh T1.

- Về con chung: Bà Lê Thị Mỹ T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục 02 con chung là Đoàn Thị Thu H, sinh ngày 03/5/2011 và Đoàn Minh Đ, sinh ngày 03/3/2015. Ông Đoàn Minh T1 phải cấp dưỡng nuôi con là 1.000.000 đồng/tháng/con (02 con là 2.000.000 đồng/tháng), cấp dưỡng đến khi con đủ 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Đối với khoản tiền cấp dưỡng, bà T có quyền làm đơn yêu cầu thi hành án ngay. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

2. Về án phí DSST:

Lê Thị Mỹ T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được tính trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) do bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004556 ngày 03 tháng 6 năm 2024. Bà T đã nộp đủ án phí DSST.

Ông Đoàn Minh T1 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, án phí nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

3. Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Đức Linh;
  • - CCTHADS huyện Đức Linh;
  • - Các đương sự;
  • - UBND thị trấn Võ Xu;
  • - TAND tỉnh;
  • - Lưu HSVA, QĐ./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Ngọc Nghĩa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Mỹ Tr "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" Đoàn Minh T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger