|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 18-12-2025
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thống.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Phương Trang;
2. Ông Trần Duy Hồ
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Lài - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Định - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 315/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 177/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 275/2025/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Bà Tưởng Thị H, sinh ngày 01/01/1979 (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ cư trú: Ấp G, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1976 (vắng mặt lần thứ 2)
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12/9/2025 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tưởng Thị H trình bày:
- Về hôn nhân: Trước khi chung sống với nhau thì bà và ông P đều đã có gia đình và con riêng. Người chồng trước của bà đã qua đời nhiều năm, đến năm 2012 bà mới gặp và chung sống như vợ chồng với ông P, ông bà không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do ông P không chí thú làm ăn, không chăm lo cuộc sống vợ con dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau. Năm 2019 ông bà ly thân đến năm 2022 thì vợ chồng đoàn tụ, nhưng trong khoảng thời gian này ông P vẫn thay đổi tính xấu. Nay nhận thấy không thể duy trì cuộc sống hôn nhân và bà với ông P cũng không đăng ký kết hôn nên bà yêu cầu không công nhận quan hệ giữa bà với ông P là vợ chồng.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Tưởng Minh T, sinh ngày 11/3/2019 và Tưởng Minh L, sinh ngày 28/02/2016. Hiện cháu L đang được bà nuôi dưỡng và nguyện vọng sống cùng bà, nên bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông P cấp dưỡng. Còn cháu T đã chết vào ngày 25/10/2025. Hiện nay bà sinh sống bằng nghề buôn bán cá tại chợ T1, thu nhập mỗi ngày từ 500.000đồng đến 600.000đồng, đủ khả năng để chăm lo cho con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn P, lời khai trong hồ sơ trình bày:
- Về hôn nhân: Năm 2012 ông và bà H có tìm hiểu trước khi sống với nhau, ông bà không có đăng ký kết hôn. Trước khi sống với bà H thì ông có gia đình nhưng đã ly hôn và con riêng đã trưởng thành. Quá trình vợ chồng chung sống mặc dù có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân cũng do lỗi của ông là không chăm lo cuộc sống vợ con. Nhưng ông rất thương vợ con, nên ông muốn vợ chồng đoàn tụ, ông không thống nhất ly hôn.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Tưởng Minh T, sinh ngày 11/3/2019 và Tưởng Minh L, sinh ngày 28/02/2016, nhưng cháu T đã chết ngày 25/10/2025. Ông không thống nhất ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 9, 14, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình:
- Về hôn nhân: Không công nhận vợ chồng giữa chị H và anh P.
- Về con chung: Giao cháu Tưởng Minh L, sinh ngày 28/02/2016 cho chị H nuôi dưỡng, cũng phù hợp với nguyện vọng cháu L.
- Về cấp dưỡng: Chị H không yêu cầu anh P phải cấp dưỡng nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà và căn cứ vào kết quả trông tụng tại phiên toà, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Về quan hệ pháp luật trông chấp: Đây là vụ kiện “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và bị đơn Nguyễn Văn P đang cự ngụ tại ấp T, xã T, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân khu vực 12- Đồng Tháp theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Tưởng Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không tham gia phiên toà. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về hôn nhân: Bà Tưởng Thị H yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Văn P, Hội đồng xét xử xét thấy: Bà H và ông P chung sống với nhau từ năm 2012 nhưng đến nay không đăng ký kết hôn theo quy định. Vợ chồng chung sống đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông P không chí thú làm ăn và chăm lo cuộc sống gia đình. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà H yêu cầu không công nhận quan hệ giữa bà với ông P là vợ chồng. Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
Khoản 1 Điều 9. Đăng ký kết hôn
“ 1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý”.
Khoản 2 Điều 53. Thụ lý đơn yêu cầu ly hôn
"2. Trong trường hợp không có đăng ký kết hôn mà có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng theo quy định tại khoản 1 Điều 14 của Luật này; nếu có yêu cầu về con chung và tài sản thì giải quyết theo quy định tại Điều 15 và Điều 16 của Luật này".
Căn cứ vào quy định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu không công nhận quan hệ hôn nhân giữa bà H với ông P là vợ chồng là hoàn toàn có cơ cở chấp nhận.
[2.2] Về con chung: Bà H và ông P chung sống có 02 con chung tên Tưởng Minh T, sinh ngày 11/3/2019 (đã chết ngày 25/10/2025) và cháu Tưởng Minh L, sinh ngày 28/02/2016. Bà H yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu L, không yêu cầu ông P cấp dưỡng. Nhận thấy, từ khi ly thân đến nay thì bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu L, bà H đã đảm bảo tốt việc chăm lo mọi mặt về sinh hoạt, học tập, phát triển cho cháu, nguyện vọng cháu L cũng muốn sống cùng bà H. Bà H cũng không yêu cầu ông P cấp dưỡng cho con, vì bản thân bà có thu nhập ổn định đủ khả năng nuôi con. Luật Hôn nhân và gia đình quy định:
Khoản 2 Điều 81.Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn
“2. Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ và quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con".
Căn cứ vào quy định trên, Hội đồng xét xử xét thấy chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà H và không yêu cầu cấp dưỡng cho con là hoàn toàn phù hợp.
[2.3] Về tài sản chung: Bà H và ông P trình bày tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về nợ chung: Bà H và ông P trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy
ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các đương sự phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định, theo đó:
[3.1] Nguyên đơn bà Tưởng Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007435 ngày 10/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, bà H không phải nộp thêm.
[3.2] Bị đơn ông Nguyễn Văn P không phải bàu tiền án phí dân sự sơ thẩm.
[4] Từ các phân tích nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 12 - Đồng Tháp là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 14, Điều 51, Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận bà Tưởng Thị H và ông Nguyễn Văn P là vợ chồng.
-
Về con chung: Chấp nhận yêu cầu được nuôi con chung của bà Tưởng Thị H.
Bà Tưởng Thị H được tiếp tục nuôi dưỡng cháu Tưởng Minh L, sinh ngày 28/02/2016. Ông Nguyễn Văn P không phải cấp dưỡng nuôi con do bà H tự nguyện không yêu cầu. Bà H cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở ông P trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Tưởng Thị H phải chịu 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007435 ngày 10/11/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Đồng Tháp, bà H không phải nộp thêm.
-
Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 18/12/2025). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Thống |
Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 18/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
