TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/DS-PT
Ngày 30-9-2025
V/v Tranh chấp chia di sản thừa kế
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Tuấn Vương.
Các Thẩm phán:
- Bà Nguyễn Thị Hân
- Ông Ngô Thế Tương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2025/TLPT- DS ngày 22 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 116/2025/QĐXXPT-DS ngày 03 tháng 9 năm 2025 và quyết định hoãn phiên toà số 124/2025/QĐPT-DS ngày 18 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Anh Vũ Văn Q, sinh năm 1974; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên) (vắng mặt).
* Bị đơn: Anh Vũ Văn Q1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên). (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Vũ Thị T, sinh năm 1970. Địa chỉ: A, tổ F, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (nay là phường L, tỉnh Đồng Nai).
Người đại diện theo uỷ quyền của chị T: Anh Vũ Văn Q1, sinh năm 1976; Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên). (Có mặt)
- Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1972. Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên) (Vắng mặt).
- Chị Lê Thị B, sinh năm 1986; (Có mặt)
- Chị Cao Thị S, sinh năm 1979; (Có mặt)
Đều có địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản án sơ thẩm, vụ án có nội dung như sau:
Tại bản tự khai, biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn anh Vũ Văn Q trình bày: bố mẹ đẻ anh là ông Vũ Văn L, chết năm 2016 và bà Vũ Thị T2, chết năm 2003. Bố mẹ anh sinh được 04 người con gồm: Vũ Thị T, Vũ Thị T1, anh (Vũ Văn Q) và Vũ Văn Q1. Bố mẹ anh không có con nuôi hay con riêng nào. Di sản thừa kế bố mẹ anh để lại gồm: thửa đất số 55, diện tích 580 m² loại đất T (đất thổ) và thửa đất số 54, diện tích 310m² đất ao, tờ bản đồ số 01 tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, đứng tên người sử dụng là ông Vũ Văn L (theo bản đồ 299 và sổ mục kê năm 1986). Theo sơ đồ đo đạc hiện trạng 2007 thì 02 thửa đất trên thể hiện tại số thửa 153, tờ bản đồ số 20, diện tích là 931,7 m², trong đó 360 m² loại đất ONT (đất ở) và 571,7 m² loại đất LNK (đất lâu năm khác), tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình đứng tên người sử dụng là ông Vũ Văn L và bà Vũ Thị T2 (viết tắt là thửa đất số 153).
Mẹ anh chết không để lại di chúc. Vào năm 2009 bố anh (ông L) đã đọc cho anh Q1 viết “lời di chúc” phân chia tài sản của bố mẹ anh (thửa đất số 153) cho 02 người con trai là anh và anh Q1. Anh và anh Q1 đã sử dụng diện tích đất mà bố mẹ anh để lại do bố anh phân chia từ năm 2009 đến nay. Khoảng năm 2010 vợ chồng anh Q1 xây nhà ở trên diện tích đất bố phân chia trong “lời di chúc”. Năm 2019 vợ chồng anh xây nhà trên diện tích đất bố phân chia. Năm 2022 anh có nguyện vọng muốn làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng anh Q1 không ký. Nay anh đề nghị Toà án không xem xét đến di chúc của bố anh để lại mà đề nghị Toà án phân chia di sản do bố mẹ để lại cho 04 chị em anh theo pháp luật. Anh đề nghị được chia toàn bộ diện tích đất là di sản của bố mẹ anh hiện anh đang sử dụng là 452,7 m² trên đó có tài sản là nhà và công trình phụ của vợ chồng anh, anh có trách nhiệm thanh toán trị giá kỷ phần di sản thừa kế cho chị T1. Chia cho anh Q1 sử
dụng toàn bộ diện tích đất là di sản hiện anh Q1 đang sử dụng có diện tích là 527,3 m², trên đất có tài sản của anh Q1, anh Q1 có trách nhiệm thanh toán trị giá kỷ phần di sản thừa kế cho chị T. Diện tích của anh Q1 sử dụng nhiều hơn diện đất anh được sử dụng, nhưng anh không yêu cầu anh Q1 phải thanh toán tiền chênh lệch giá trị di sản cho anh. Anh nhất trí với kết quả thẩm định của Tòa án đối với thửa đất số 153.
Ngoài thửa đất số 153, di sản của bố mẹ anh để lại còn 230m² đất ao trong diện tích 466m² đất ao tại thửa đất số 121 tờ bản đồ số 20 (chung với bà Vũ Thị K) tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (viết tắ là thửa đất số 121) và 360m² ruộng cơ bản của mẹ anh (bà T2) hiện do vợ chồng Q1 đang quản lý, canh tác, tuy nhiên anh không yêu cầu Toà án giải quyết phân chia các di sản trên. Số tiền mai táng phí và 03 tháng lương của bố anh tổng cộng là 50.000.000 đồng do anh quản lý, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia số tiền trên.
Về chi phí thẩm định, đo đạc và định giá tài sản hết 7.000.000 đồng anh đã ứng ra chi phí, anh tự nguyện chịu toàn bộ không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị B (vợ anh Q) trình bày: chị là vợ của anh Q, chị hoàn toàn nhất trí với phần trình bày của anh Q tại phiên toà, chị không bổ sung gì.
Tại các biên bản ghi lời khai, bị đơn anh Vũ Văn Q1 trình bày:
Bố mẹ đẻ anh là ông Vũ Văn L, chết năm 2016 và bà Vũ Thị T2, chết năm 2003. Bố mẹ anh sinh được 04 người con gồm: Vũ Thị T, Vũ Thị T1, Vũ Văn Q và anh (Vũ Văn Q1). Bố mẹ anh không có con nuôi hay con riêng nào. Về di sản thừa kế bố mẹ anh để lại gồm: thửa đất số 55, diện tích 580 m² loại đất T (đất thổ), tờ bản đồ số 01 tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình, đứng tên người sử dụng là ông Vũ Văn L (theo bản đồ 299 và sổ mục kê năm 1986). Theo sơ đồ đo đạc hiện trạng 2007 thì thửa đất trên thể hiện tại số thửa 153, tờ bản đồ số 20, diện tích là 931,7 m²; trong đó có 360 m² đất ở và 571,7 m² đất lâu năm khác, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình đứng tên người sử dụng là ông Vũ Văn L và bà Vũ Thị T2; 230m² đất ao trong diện tích 466m² đất ao tại thửa đất số 121 tờ bản đồ số 20 (chung với bà Vũ Thị K) tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình và 360m² ruộng cơ bản của mẹ anh (bà T2) được chia ở xứ đồng Nấm Cao thôn Trung Thượng, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình hiện nay do vợ chồng anh đang quản lý, canh tác. Ngoài ra còn số tiền mai táng phí và 03 tháng lương của bố anh, tổng cộng khoảng 50.000.000 đồng hiện do anh Vũ Văn Q quản lý.
Anh yêu cầu Toà án phân chia di sản của bố mẹ anh là thửa đất 153 cho 4 chị em theo pháp luật, đề nghị chia cho anh sử dụng toàn bộ diện tích đất hiện nay anh đang sử dụng trên có công trình nhà ở do vợ chồng anh xây dựng; chia cho anh Q sử dụng toàn bộ diện tích đất anh Q đang sử dụng như hiện trạng Toà án về đo đạc thẩm định. Anh và anh Q có trách nhiệm thanh toán kỷ phần di sản cho các hàng thừa kế khác. Đối với diện tích đất ao tại thửa 121; tiêu chuẩn ruộng cơ bản của mẹ anh là 360m² và số tiền mai táng phí + tiền lương của bố anh khoảng 50.000.000 đồng anh không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Cao Thị S (vợ anh Q1) trình bày: chị là vợ của anh Q1 quan điểm của chị nhất trí với quan điểm của anh Q1 trình bày, chị không bổ sung thêm gì.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai, chị Vũ Thị T1 trình bày: Bố mẹ đẻ chị là ông Vũ Văn L, chết năm 2016 và bà Vũ Thị T2, chết năm 2003. Bố mẹ anh sinh được 04 người con và di sản bố mẹ anh để lại như lời trình bày của anh Q là đúng. Mẹ chị chết không để lại di chúc. Năm 2009 bố chị có lập bản “lời di chúc” phân chia tài sản của bố mẹ chị cho anh Q và anh Q2. Nay quan điểm của chị đề nghị Toà án không xem xét đến di chúc của bố chị để lại, mà chia di sản thừa kế của bố mẹ chị để lại cho 04 chị em theo pháp luật. Chia đất tại thửa 153 cho anh Q, anh Q1 được quyền sử dụng như hiện trạng 02 anh đang sử dụng. Anh Q có trách nhiệm thanh toán kỷ phần di sản của bố mẹ để lại cho chị; anh Q1 có trách nhiệm thanh toán kỷ phần di sản của bố, mẹ để lại cho chị T. Kỷ phần của chị được hưởng chị nhường toàn bộ cho anh Q, anh Q không phải thanh toán chênh lệch trị giá tài sản cho chị.
Bố, mẹ chị còn để lại di sản gồm: 230m² đất ao trong diện tích 466m² đất ao tại thửa đất số 121 tờ bản đồ số 20 (chung với bà Vũ Thị K) tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình và 360m² ruộng cơ bản của mẹ chị (bà T2) ở xứ đồng Nấm Cao thôn Trung Thượng, xã T, huyện H; anh Q đang quản lý số tiền mai táng phí và tiền lương của bố chị khoảng 50.000.000 đồng, chị không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình xác minh, thu thập chứng cứ.
Tòa án đã tiến hành thẩm định thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, có diện tích là 360 m² đất ở và 620m² là đất lâu năm khác tại thôn T, xã T, huyện H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Vũ Thị T hiện đang sinh sống ở thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Toà án nhân dân huyện Hưng Hà đã thực hiện uỷ thác thu thập chứng cứ đối với chị T cho Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh
Đồng Nai. Toà án nhân dân thành phố Biên Hòa đã làm việc trực tiếp với chồng chị T là anh Vũ Phong B1, thông qua anh B1, chị T đã biết việc anh Q khởi kiện chia di sản thừa kế của bố, mẹ chị để lại nhưng chị T không hợp tác trình bày ý kiến của mình nên Tòa án không biết quan điểm của chị T đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Các đương sự đều nhất trí với kết quả thẩm định, đo đạc và định giá ngày 20/01/2025 do Tòa án thẩm định và Hội đồng định giá, định giá tài sản.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 23/6/2025 Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên) quyết định:
Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 650 và Điều 651 của Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Văn Q: xác định diện tích 452,7m² đất ở và đất lâu năm khác anh Vũ Văn Q và chị Lê Thị B đang sử dụng và diện tích 527,3m² đất ở và đất lâu năm khác anh Vũ Văn Q2 và chị Cao Thị S đang sử dụng đều thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình là di sản thừa kế của ông Vũ Văn L và bà Vũ Thị T2.
- Chia di sản thừa kế như sau:
- Chia cho anh Vũ Văn Q được quyền sử dụng diện tích đất 452,7m², trong đó có 180 m² đất ở và 272,7m² đất lâu năm khác, nằm trong thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (ký hiệu S1 có sơ đồ kèm theo), cụ thể:
- + Hướng Đông giáp phần đất hộ ông Vũ Xuân N và hộ bà Vũ Thị S1 dài 32,49 m;
- + Hướng Tây giáp phần đất chia cho anh Q1 dài 32,85 m;
- + Hướng Nam giáp đất thuỷ lợi dài 14,08 m;
- + Hướng Bắc giáp đất hộ ông Vũ Xuân N và hộ bà Vũ Thị T3 dài 16,72 m.
- Chia cho anh Vũ Văn Q1 được quyền sử dụng diện tích đất 527,3 m², trong đó có 180 m2 đất ở và 347,3 m² đất lâu năm khác, nằm trong thửa đất số 153,
- Chia cho anh Vũ Văn Q được quyền sử dụng diện tích đất 452,7m², trong đó có 180 m² đất ở và 272,7m² đất lâu năm khác, nằm trong thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (ký hiệu S1 có sơ đồ kèm theo), cụ thể:
tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (ký hiệu S2 có sơ đồ kèm theo), cụ thể:
- + Hướng Đông giáp phần đất chia cho anh Q dài 32,85 m;
- + Hướng Tây giáp đất hộ ông Lê Đình H dài 30,38 m;
- + Hướng Nam đất thuỷ lợi dài 19,61 m;
- + Hướng Bắc giáp đất hộ ông Lê Đình H và hộ bà Vũ Thị H1 dài 18,74m.
3. Trách nhiệm thanh toán: anh Vũ Văn Q1 phải thanh toán trị giá kỷ phần di sản cho chị Vũ Thị T là: 140.850.000 đồng (Một trăm bốn mươi triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Anh Q không phải thanh toán trị giá kỷ phần di sản cho chị Vũ Thị T1.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
* Ý kiến của các đương sự tại phiên toà phúc thẩm:
Bị đơn anh Vũ Văn Q1 trình bày: Anh đồng ý chia di sản thừa kế của ông Vũ Văn L và bà Vũ Thị T2 và đồng ý với cách chia di sản thừa kế của bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, nay chị Vũ Thị T đã có đơn trình bày tặng cho kỉ phần của chị T cho anh Q1, đề nghị cấp phúc thẩm chấp nhận. Đồng thời, đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại di sản thừa kế của cụ T2, cụ L là diện tích đất vườn, ao vì có sự quy đổi diện tích đất vườn, ao của anh Q1 và vợ là chị S nằm trong khối di sản của cụ L và cụ T2.
* Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, các đương sự đảm bảo đúng pháp luật và đề nghị: chấp nhận một phần kháng cáo của anh Q1, áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm, xác định lại di sản thừa kế, kỷ phần thừa kế, nghĩa vụ thanh toán và án phí chia thừa kế.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thời hạn kháng cáo:
Đơn kháng cáo của bị đơn gửi trong thời hạn quy định tại Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy đơn kháng cáo của bị đơn được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Tại giai đoạn phúc thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Lê Thị B giao nộp Giấy uỷ quyền đề ngày 11/9/2025, nội dung nguyên đơn anh Vũ Văn Q uỷ quyền cho chị Lê Thị B tham gia tố tụng. Giấy uỷ quyền chỉ có xác nhận của chính quyền địa phương về hộ khẩu thường trú của anh Vũ Văn Q mà không xác nhận nội dung uỷ quyền, anh Vũ Văn Q là người khuyết tật nặng nên giấy uỷ quyền nêu trên là không hợp pháp. Anh Vũ Văn Q, chị Vũ Thị T1 vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về thời hiệu khởi kiện:
Ông L chết năm 2016, bà T2 chết năm 2003 là còn trong thời hiệu khởi kiện chia thừa kế theo quy định tại khoản 1 Điều 623 Bộ luật Dân sự. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của anh Q là đúng quy định.
[2.2] Về người được hưởng thừa kế:
Ông L và bà T2 có 04 người con chung là anh Q, anh Q1, chị T, chị T1. Ngoài ra ông bà không có con chung, con nuôi, con riêng nào khác, bố mẹ đẻ của ông bà đều đã chết trước ông bà. Do đó, người được hưởng thừa kế của ông L, bà T2 là 04 người trên.
[2.3] Về di chúc:
Bà T2 chết không để lại di chúc. Anh Q xuất trình bản di chúc của ông L lập ngày 29/11/2009, nội dung định đoạt cho anh Q và anh Q1 mỗi người ½ diện tích đất. Tuy nhiên, di chúc này không xác định cụ thể diện tích, tứ cận, không có sơ đồ kèm theo, không được công chứng, chứng thực. Người làm chứng là vợ chồng chị T1 anh X không bảo đảm điều kiện về người làm chứng cho di chúc theo Điều 654 Bộ luật Dân sự 2005. Chị T là người thuộc hàng thừa kế không ký xác nhận, trong khi việc định đoạt di sản ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi hợp pháp của chị. Do vậy, di chúc này không đáp ứng điều kiện về di chúc bằng văn bản có người làm chứng quy định tại Điều 656 Bộ luật Dân sự 2005 nên vô hiệu toàn bộ. Di sản của ông L, bà T2 được chia theo pháp luật.
[2.4] Về xác định di sản:
Ông L, bà T2 có tài sản chung là nhà đất tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (nay là xã L, tỉnh Hưng Yên). Theo bản đồ 299 năm 1986, diện tích 890 m²; bản đồ
năm 2007 thể hiện 931,7 m²; kết quả đo đạc, thẩm định thực tế là 980 m² (360 m² đất ở, 620 m² đất lâu năm khác). Hiện anh Q sử dụng 452,7 m², anh Q1 sử dụng 527,3 m². UBND xã T xác nhận diện tích tăng do phương pháp đo khác nhau, không có tranh chấp ranh giới. Cấp sơ thẩm xác định xác định diện tích 452,7m² đất ở và đất lâu năm khác anh Vũ Văn Q và chị Lê Thị B đang sử dụng và diện tích 527,3m² đất ở và đất lâu năm khác anh Vũ Văn Q1 và chị Cao Thị S đang sử dụng đều thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình là di sản thừa kế của ông Vũ Văn L và bà Vũ Thị T2.
Kết quả xác minh tại giai đoạn phúc thẩm cho thấy: Khẩu đất nông nghiệp của hộ nhà bà Vũ Thị T2: Khẩu 652 là: 03 khẩu (Vũ Thị T2, Vũ Văn Q, Vũ Văn Q1). Khẩu 948 là: 04 khẩu (Vũ Thị T2, V, Vũ Thị H2 (là chị Cao Thị S - vợ anh Q1), Vũ Văn Q1). Diện tích quy đổi là: Khấu trừ ruộng cấy ngoài đồng 110,0 m² ăn vào trong vườn là 220,0 m²; Khấu trừ ruộng cấy ngoài đồng là 69,0 m² ăn vào trong ao là 249,0 m². Diện tích quy đổi theo hộ gia đình chứ không riêng khẩu nào. Như vậy, tổng diện tích đất vườn ao quy đổi là 469 m², tại thời điểm quy đổi năm 2002 hộ bà T2 có 04 khẩu nông nghiệp nên mỗi khẩu được quy đổi là 117,25 m² đất vườn, ao. Như vậy, di sản chung của ông L, bà T2 còn lại là 360 m² đất ở và 151 m² đất vườn; ngoài ra, bà T2 có 117,25 m² đất vườn quy đổi. Tổng giá trị di sản của hai cụ là 544.405.500 đồng. Do diện tích đất ao đã được đôn lấp thành vườn nên cần trừ đất của 03 khẩu nông nghiệp quy đổi (anh Q, anh Q1, chị S) là 351,75 m² đất vườn ra khỏi tổng diện tích đất anh Q anh Q1 hiện đang sử dụng sau đó mới thực hiện việc chia thừa kế.
Như vậy, di sản của ông L, bà T2 được xác định lại sau khi trừ đi diện tích đất nông nghiệp quy đổi cho anh Q, anh Q1, chị S là 360 m² đất ở, 151 m² đất vườn, ngoài ra bà T2 còn có di sản là 117,25 m² đất vườn quy đổi. Tổng giá trị di sản là 544.405.500 đồng.
[2.5] Về công sức quản lý di sản:
Anh Q, anh Q1 không yêu cầu xem xét công sức quản lý di sản, nên Tòa án cấp sơ thẩm không đặt ra giải quyết là đúng pháp luật.
[2.6] Về xác định kỷ phần và cách phân chia di sản thừa kế:
Di sản thừa kế của ông L và bà T2 được chia đều làm 4 phần, một suất thừa kế có giá trị là 136.101.375 đồng. Căn cứ vào hiện trạng di sản và nhu cầu sử dụng đất của các đương sự, cần chia cho anh Q được quyền sử dụng diện tích đất hiện anh đang quản lý, sử dụng tại thửa 153 là 452,7m², trong đó có 180 m² đất ở và 272,7m² đất lâu năm khác (trong đó có 117,25 m² đất nông nghiệp quy đổi của anh
Q, trên đất có tài sản của vợ chồng anh Q), trị giá phần di sản anh Q được chia là 273.354.300 đồng. Tại phiên Tòa phúc thẩm, anh Q1, chị S đều đề nghị Tòa án giao chung cho anh chị phần di sản anh Q1 được hưởng và phần đất nông nghiệp được quy đổi của anh chị nên cần chấp nhận, chia cho anh Q1, chị S được quyền sử dụng diện tích đất hiện anh chị đang quản lý, sử dụng tại thửa 153 là 527,3 m², trong đó có 180 m² đất ở và 347,3 m² đất lâu năm khác (trong đó anh Q1 và chị S mỗi người có 117,25 m² đất nông nghiệp quy đổi, trên đất có tài sản của vợ chồng anh Q1), trị giá phần di sản anh Q1 được chia là 271.051.200 đồng. Chị T1 nhường kỷ phần di sản chị được hưởng cho anh Q, vì vậy anh Q không phải thanh toán trị giá kỷ phần di sản cho chị T1. Anh Q1 phải có trách nhiệm thanh toán trị giá kỷ phần di sản cho chị T là 134.949.825 đồng; anh Q có trách nhiệm thanh toán cho chị T 1.151.550 đồng. Tại phiên toà phúc thẩm, anh Q1 xuất trình đơn đề nghị của chị T thể hiện chị T tặng lại toàn bộ kỉ phần của chị cho anh Q1 và anh Q1 cũng không yêu cầu anh Q phải thanh toán lại số tiền 1.151.550 đồng cho anh. Xét, đây là sự tự nguyện của các đương sự nên cần chấp nhận. Do đó, anh Q và anh Q1 đều không phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán giá trị chênh lệch cho các đồng thừa kế khác.
[2.7] Về án phí sơ thẩm:
Tòa án cấp sơ thẩm xác định anh Q1, chị T phải chịu án phí sơ thẩm trên kỷ phần được hưởng là đúng quy định tại khoản 2 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 7 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án. Tại cấp phúc thẩm, chị T tặng cho kỉ phần của mình cho anh Q1 nên chị T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Do kỷ phần được xác định lại và được chị T tặng cho kỉ phần của mình nên anh Q1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5% x 136.101.375 đồng x 2 = 13.610.000 đồng.
[2.8] Về án phí phúc thẩm:
Bản án sơ thẩm bị sửa nên anh Q1 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
I. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm, xác định lại di sản thừa kế, kỷ phần thừa kế, nghĩa vụ thanh toán và án phí chia thừa kế, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 23/2025/DS-ST ngày 23/6/2025 Toà án nhân dân huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình (nay là Toà án nhân dân khu vực 8 - Hưng Yên).
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Vũ Văn Q: xác định diện tích 360 m² đất ở, 151 m² đất vườn thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình là di sản thừa kế của ông Vũ Văn L và bà Vũ Thị T2.
Bà Vũ Thị T2 còn có di sản là 117,25 m² đất vườn quy đổi thuộc thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình.
- Chia di sản thừa kế như sau:
- Chia cho anh Vũ Văn Q được quyền sử dụng diện tích đất 452,7m², trong đó có 180 m² đất ở và 272,7m² đất lâu năm khác (trong đó có 117,25 m² đất nông nghiệp quy đổi của anh Q và 155,45 m² đất di sản), nằm trong thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (ký hiệu S1 có sơ đồ kèm theo), cụ thể:
- + Hướng Đông giáp phần đất hộ ông Vũ Xuân N và hộ bà Vũ Thị S1 dài 32,49 m;
- + Hướng Tây giáp phần đất chia cho anh Q1 dài 32,85 m;
- + Hướng Nam giáp đất thuỷ lợi dài 14,08 m;
- + Hướng Bắc giáp đất hộ ông Vũ Xuân N và hộ bà Vũ Thị T3 dài 16,72 m.
- Chia cho anh Vũ Văn Q1, chị Cao Thị S được quyền sử dụng diện tích đất 527,3m², trong đó có 180 m² đất ở và 347,3 m² đất lâu năm khác (trong đó có 234,5 m² đất nông nghiệp quy đổi của anh Q1, chị S và 112,8 m² đất di sản), nằm trong thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (ký hiệu S2 có sơ đồ kèm theo), cụ thể:
- + Hướng Đông giáp phần đất chia cho anh Q dài 32,85 m;
- + Hướng Tây giáp đất hộ ông Lê Đình H dài 30,38 m;
- + Hướng Nam đất thuỷ lợi dài 19,61 m;
- + Hướng Bắc giáp đất hộ ông Lê Đình H và hộ bà Vũ Thị H1 dài 18,74m.
- Chia cho anh Vũ Văn Q được quyền sử dụng diện tích đất 452,7m², trong đó có 180 m² đất ở và 272,7m² đất lâu năm khác (trong đó có 117,25 m² đất nông nghiệp quy đổi của anh Q và 155,45 m² đất di sản), nằm trong thửa đất số 153, tờ bản đồ số 20, tại thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thái Bình (ký hiệu S1 có sơ đồ kèm theo), cụ thể:
- Trách nhiệm thanh toán: Anh Vũ Văn Q, anh Vũ Văn Q1 không phải thanh toán chênh lệch cho các đồng thừa kế khác.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7; 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho anh Q. Anh Q1 phải chịu 13.610.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm (Mười ba triệu sáu trăm mười nghìn đồng).
- Về án phí phúc thẩm: Anh Vũ Văn Q1 không phải chịu án phí phúc thẩm. Trả lại số tiền 300.000 đồng anh Q1 đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai số 0000123 ngày 28/7/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Hưng Yên.
II. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 30/9/2025./.
* Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Chu Tuấn Vương |
Bản án số 105/2025/DS-PT ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về tranh chấp chia di sản thừa kế
- Số bản án: 105/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp chia thừa kế tài sản
