Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày 04 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Kăn Niê.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Y Blao Bkrông, bà Nguyễn Thị Bình.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Bích Dịu – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Ông Phạm Việt Bắc – Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 04/4/2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2025/HSST, ngày 17 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2025/QĐXXST-HS, ngày 20/3/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Thùy L (Tên gọi khác: Không), sinh ngày 26/12/1967;

Tại: tỉnh Quảng Nam.

Nơi cư trú: Số B đường X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk;

Nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam;

Con ông Nguyễn T Biết và con bà Bùi Thị H (đều đã chết); bị cáo có chồng tên Lê Viết V, sinh năm 1979 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1995.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 21 tháng 11 năm 1990, bị Toà án thị xã B, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng, về tội Cố ý gây thương tích, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 85/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong (đã được xoá án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29 tháng 12 năm 2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên toà.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu T1. Địa chỉ: D T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  2. Bà Phạm Thị É. Địa chỉ: A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  3. Bà Huỳnh Thị B. Địa chỉ: T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  4. Bà Ngô Tố N. Địa chỉ: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  5. Bà Ao Thị Nhật L1. Địa chỉ: B L, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  6. Bà Ngô Thị Kim N1. Địa chỉ: 69/2/7 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  7. Bà Đặng Thị Tuyết M. Địa chỉ: Hẻm A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  8. Bà Nguyễn Thị Kim H1. Địa chỉ: 2 X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  9. Bà Trần Thị Kim T2. Địa chỉ: 1 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  10. Bà Trần Thị H2. Địa chỉ: A E N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  11. Ông Lê Viết V. Địa chỉ: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Có mặt)
  12. Bà Nguyễn Thị Kim H3. Địa chỉ: 1 Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
  13. Bà Nguyễn Kim D. Địa chỉ: C L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu năm 2024, Nguyễn Thị Thùy L biết nhiều người dân trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk có nhu cầu vay tiền, nhưng không có nguồn vay, nên L đã nảy sinh ý định sử dụng tiền cá nhân để cho người khác vay, theo hình thức cho vay tiền góp với lãi suất cao để thu lợi bất chính. Khi cho vay tiền, L thỏa thuận với người vay tiền như sau: Các gói vay tiền từ 2.700.000 đồng đến 27.000.000 đồng/01 lần vay, đóng tiền lãi và gốc trong vòng 30 ngày, tuỳ vào số tiền vay L sẽ thu tiền trả góp hàng ngày tương ứng, L không thu tiền phí vay, người vay có thể vay nhiều gói trong cùng một thời điểm hoặc khi chưa trả hết gói vay, thì người vay có thể tiếp tục vay gói mới thì L sẽ trừ số tiền còn nợ và đưa cho người vay số tiền còn lại của gói vay mới. Hàng ngày, L thu tiền góp dưới hình thức đi thu tiền trực tiếp hoặc nhận tiền của người vay qua số tài khoản 0904753579 mang tên Nguyễn Thị Thùy L mở tại Ngân hàng Q (M1).

Hình thức Nguyễn Thị Thùy L cho vay là trả tiền gốc và tiền lãi theo ngày trong một thời hạn nhất định, ví dụ: A vay của L 2.700.000 đồng, đóng gốc và lãi trong vòng 30 ngày, mỗi ngày đóng 100.000 đồng. Số tiền phải đóng sau 30 ngày là: 30 ngày x 100.000 đồng = 3.000.000 đồng. Số tiền lãi nhận được là: 3.000.000 đồng – 2.700.000 đồng = 300.000 đồng. Lãi suất năm là: = 135,19%. Lãi suất vượt quá so với lãi suất của Nhà nước cho phép là: 135,19% : 20% = 6,76 lần.

Bằng cách thức như trên, từ tháng 4 năm 2024 đến ngày 21 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Thị Thùy L đã cho nhiều người dân trên địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk vay tiền với lãi suất cao, cụ thể như sau:

1. Bà Nguyễn Thị Thu T1 (sinh năm 1981, trú tại: D T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 01 lần, cụ thể: Ngày 21/11/2024, bà T1 vay của L số tiền 13.700.00 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 500.000 đồng, lãi suất tương ứng là 115,45%/01 năm, gấp 5,77 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 15.000.000 đồng, trong đó: 13.700.00 đồng tiền gốc và 1.300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 225.205 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.300.000 đồng - 225.205 đồng = 1.074.795 đồng.

2. Bà Phạm Thị É (sinh năm 1969, trú tại: A T, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, vay 09 lần:

Lần 1: Ngày 23/5/2024, bà É vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.700.000 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.384 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000 đồng - 44.384 đồng = 255.616 đồng.

Lần 2: Ngày 23/6/2024, bà É vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 3: Ngày 23/7/2024, bà É vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 4: Ngày 23/8/2024, bà É vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 5: Ngày 18/10/2024, bà É vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.700.000 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.384 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000 đồng - 44.384 đồng = 255.616 đồng.

Lần 6: Ngày 14/11/2024, bà É vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 7: Ngày 05/12/2024, bà É vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 8: Ngày 13/12/2024, bà É vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 06 ngày cho L với số tiền là 1.200.000 đồng, trong đó: 1.080.000 đồng tiền gốc và 120.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 17.753 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 120.000 đồng - 17.753 đồng = 102.247 đồng và bà É còn nợ lại L số tiền gốc là 4.320.000 đồng.

Lần 9: Ngày 18/12/2024, bà É vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà É đã trả đủ 02 ngày cho L với số tiền là 800.000 đồng, trong đó: 720.000 đồng tiền gốc và 80.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 11.836 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 80.000 đồng - 11.836 đồng = 68.164 đồng và bà É còn nợ lại L số tiền gốc là 10.080.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà É vay là 54.000.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 3.749.041 đồng và bà É còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 14.400.000 đồng.

3. Bà Huỳnh Thị B (sinh năm 1967, trú tại: Tổ dân phố G, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 03 dây, trong đó dây 1 vay 03 lần, dây 2 vay 02 lần và dây 3 vay 02 lần, cụ thể:

Dây 1:

Lần 1: Ngày 27/10/2024, bà B vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.700.00 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.384 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000 đồng - 44.384 đồng = 255.616 đồng.

Lần 2: Ngày 24/11/2024, bà B vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.700.00 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.384 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000 đồng - 44.384 đồng = 255.616 đồng.

Lần 3: Ngày 09/12/2024, bà B vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 12 ngày cho L với số tiền là 2.400.000 đồng, trong đó: 2.160.000 đồng tiền gốc và 240.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 35.507 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 240.000 đồng - 35.507 đồng = 204.493 đồng và bà B còn nợ lại L số tiền gốc là 3.240.000 đồng.

Dây 2:

Lần 1: Ngày 08/11/2024, bà B vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.700.00 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.384 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000 đồng - 44.384 đồng = 255.616 đồng.

Lần 2: Ngày 05/12/2024, bà B vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 16 ngày cho L với số tiền là 1.600.000 đồng, trong đó: 1.440.000 đồng tiền gốc và 160.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 23.671 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 160.000 đồng - 23.671 đồng = 136.329 đồng và bà B còn nợ lại L số tiền gốc là 1.260.000 đồng.

Dây 3:

Lần 1: Ngày 27/11/2024, bà B vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 2: Ngày 16/12/2024, bà B vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà B đã trả đủ 03 ngày cho L với số tiền là 600.000 đồng, trong đó: 540.000 đồng tiền gốc và 60.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 8.877 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 60.000 đồng – 8.877 đồng = 51.123 đồng và bà B còn nợ lại L số tiền gốc là 4.860.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà B vay là 27.000.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 1.670.027 đồng và bà B còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 9.360.000 đồng.

4. Bà Ngô Tố N (sinh năm 1976, trú tại: Thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 06 lần:

Lần 1: Đầu tháng 7/2024, bà N vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 2: Ngày 13/9/2024, bà N vay của L số tiền 5.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.200.000 đồng tiền gốc và 800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 85.479 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 800.000 đồng - 85.479 đồng = 714.521 đồng.

Lần 3: Ngày 26/9/2024, bà N vay của L số tiền 7.800.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 300.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 9.000.000 đồng, trong đó: 7.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 128.219 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 128.219 đồng = 1.071.781 đồng.

Lần 4: Ngày 13/10/2024, bà N vay của L số tiền 7.800.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 300.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 9.000.000 đồng, trong đó: 7.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 128.219 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 128.219 đồng = 1.071.781 đồng.

Lần 5: Ngày 03/11/2024, bà N vay của L số tiền 7.800.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 300.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 9.000.000 đồng, trong đó: 7.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 128.219 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 128.219 đồng = 1.071.781 đồng.

Lần 6: Ngày 12/11/2024, bà N vay của L số tiền 7.800.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 300.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N đã trả đủ 05 ngày cho L với số tiền là 1.500.000 đồng, trong đó: 1.300.000 đồng tiền gốc và 200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 21.370 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 200.000 đồng - 21.370 đồng = 178.630 đồng và bà N còn nợ lại L số tiền gốc là 6.500.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà N vay là 41.800.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 4.619.726 đồng và bà N còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 6.500.000 đồng.

5. Bà Ao Thị Nhật L1 (sinh năm 1963, trú tại: B L, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 06 lần:

Lần 1: Ngày 01/6/2024, bà L1 vay của L số tiền 27.000.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 1.000.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà L1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 30.000.000 đồng, trong đó: 27.000.00 đồng tiền gốc và 3.000.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 443.836 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 3.000.000 đồng - 443.836 đồng = 2.556.164 đồng.

Lần 2: Ngày 01/7/2024, bà L1 vay của L số tiền 27.000.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 1.000.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà L1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 30.000.000 đồng, trong đó: 27.000.00 đồng tiền gốc và 3.000.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 443.836 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 3.000.000 đồng - 443.836 đồng = 2.556.164 đồng.

Lần 3: Ngày 01/8/2024, bà L1 vay của L số tiền 27.000.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 1.000.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà L1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 30.000.000 đồng, trong đó: 27.000.00 đồng tiền gốc và 3.000.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 443.836 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 3.000.000 đồng - 443.836 đồng = 2.556.164 đồng.

Lần 4: Giữa tháng 9/2024, bà L1 vay của L số tiền 13.500.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 500.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà L1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 15.000.000 đồng, trong đó: 13.500.000 đồng tiền gốc và 1.500.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 221.918 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.500.000 đồng - 221.918 đồng = 1.278.082 đồng.

Lần 5: Ngày 17/10/2024, bà L1 vay của L số tiền 13.500.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 500.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà L1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 15.000.000 đồng, trong đó: 13.500.000 đồng tiền gốc và 1.500.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 221.918 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.500.000 đồng - 221.918 đồng = 1.278.082 đồng.

Lần 6: Ngày 23/11/2024, bà L1 vay của L số tiền 13.500.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 500.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà L1 đã trả đủ 24 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng và bà L1 còn nợ lại L số tiền gốc là 2.700.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà L1 vay là 121.500.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 11.247.123 đồng và bà L1 còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 2.700.000 đồng.

6. Bà Ngô Thị Kim N1 (sinh năm 1977, trú tại: 69/2/7 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 04 lần:

Lần 1: Ngày 02/11/2024, bà N1 vay của L số tiền 4.050.000 đồng, thời hạn là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 150.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 4.500.000 đồng, trong đó: 4.050.000 đồng tiền gốc và 450.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 66.575 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 450.000 đồng - 66.575 đồng = 383.425 đồng.

Lần 2: Ngày 05/11/2024, bà N1 vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.700.00 đồng tiền gốc và 300.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.384 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 300.000 đồng - 44.384 đồng = 255.616 đồng.

Lần 3: Ngày 08/12/2024, bà N1 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N1 đã trả đủ 11 ngày cho L với số tiền là 2.200.000 đồng, trong đó: 1.980.000 đồng tiền gốc và 220.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 32.548 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 220.000 đồng - 32.548 đồng = 187.452 đồng và bà N1 còn nợ lại L số tiền gốc là 3.420.000 đồng.

Lần 4: Ngày 19/12/2024, bà N1 vay của L số tiền 2.700.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà N1 đã trả đủ 02 ngày cho L với số tiền là 200.000 đồng, trong đó: 180.00 đồng tiền gốc và 20.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 2.959 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 20.000 đồng - 2.959 đồng = 17.041 đồng và bà N1 còn nợ lại L số tiền gốc là 2.520.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà N1 vay là 14.850.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 843.534 đồng và bà N1 còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 5.940.000 đồng.

7. Bà Đặng Thị Tuyết M (sinh năm 1957, trú tại: Hẻm A Đ, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk) vay 03 lần:

Lần 1: Ngày 27/09/2024, bà M vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà M đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 2: Ngày 31/10/2024, bà M vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà M đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 3: Ngày 25/11/2024, bà M vay của L số tiền 8.100.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 300.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà M đã trả đủ 23 ngày cho L với số tiền là 6.900.000 đồng, trong đó: 6.210.000 đồng tiền gốc và 690.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 102.082 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 690.000 đồng - 102.082 đồng = 587.918 đồng và bà M còn nợ lại L số tiền gốc là 1.890.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà M vay là 24.300.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 2.121.616 đồng và bà M còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 1.890.000 đồng.

8. Bà Nguyễn Thị Kim H1 (sinh năm 1967, trú tại: 233/9/34 X, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 02 lần:

Lần 1: Ngày 08/11/2024, bà H1 vay của L số tiền 5.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H1 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.200.000 đồng tiền gốc và 800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 85.479 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 800.000 đồng - 85.479 đồng = 714.521 đồng.

Lần 2: Ngày 04/12/2024, bà H1 vay của L số tiền 10.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H1 đã trả đủ 15 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.200.000 đồng tiền gốc và 800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 85.479 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 800.000 đồng - 85.479 đồng = 714.521 đồng và bà H1 còn nợ lại L số tiền gốc là 5.200.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà H1 vay là 15.600.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 1.429.041 đồng và bà H1 còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 5.200.000 đồng.

9. Bà Trần Thị Kim T2 (sinh năm 1977, trú tại: 1 P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 06 lần:

Lần 1: Ngày 08/05/2024, bà T2 vay của L số tiền 2.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.600.00 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 42.740 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 400.000 đồng - 42.740 đồng = 357.260 đồng.

Lần 2: Ngày 06/06/2024, bà T2 vay của L số tiền 2.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.600.00 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 42.740 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 400.000 đồng - 42.740 đồng = 357.260 đồng.

Lần 3: Ngày 07/07/2024, bà T2 vay của L số tiền 2.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.600.00 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 42.740 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 400.000 đồng - 42.740 đồng = 357.260 đồng.

Lần 4: Ngày 02/10/2024, bà T2 vay của L số tiền 2.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 100.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 3.000.000 đồng, trong đó: 2.600.00 đồng tiền gốc và 400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 42.740 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 400.000 đồng - 42.740 đồng = 357.260 đồng.

Lần 5: Ngày 21/10/2024, bà T2 vay của L số tiền 3.900.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 150.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 4.500.000 đồng, trong đó: 3.900.00 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 64.110 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 64.110 đồng = 535.890 đồng.

Lần 6: Ngày 21/11/2024, bà T2 vay của L số tiền 3.900.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 150.000 đồng, lãi suất tương ứng là 187,18%/01 năm, gấp 9,36 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà T2 đã trả đủ 21 ngày cho L với số tiền là 3.150.000 đồng, trong đó: 2.730.000 đồng tiền gốc và 420.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 44.877 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 420.000 đồng - 44.877 đồng = 375.123 đồng và bà T2 còn nợ lại L số tiền gốc là 1.170.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà T2 vay là 18.200.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 2.340.055 đồng và bà T2 còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 1.170.000 đồng.

10. Bà Trần Thị H2 (sinh năm 1982, trú tại: A N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk), vay 33 lần:

Lần 1: Ngày 09/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 2: Ngày 09/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 3: Ngày 15/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó: 16.200.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 266.301 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng - 266.301 đồng = 1.533.699 đồng.

Lần 4: Ngày 17/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 5: Ngày 21/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 8.100.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 300.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 9.000.000 đồng, trong đó: 8.100.000 đồng tiền gốc và 900.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 133.151 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 900.000 đồng - 133.151 đồng = 766.849 đồng.

Lần 6: Ngày 24/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 7: Ngày 30/9/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó: 16.200.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 266.301 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng - 266.301 đồng = 1.533.699 đồng.

Lần 8: Ngày 4/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 9: Ngày 4/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 10: Ngày 7/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 11: Ngày 9/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 12: Ngày 14/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó: 16.200.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 266.301 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng - 266.301 đồng = 1.533.699 đồng.

Lần 13: Ngày 19/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 14: Ngày 19/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 15: Ngày 21/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 16: Ngày 22/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 17: Ngày 28/10/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó: 16.200.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 266.301 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng - 266.301 đồng = 1.533.699 đồng.

Lần 18: Ngày 05/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 19: Ngày 05/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 20: Ngày 12/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó: 16.200.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 266.301 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng - 266.301 đồng = 1.533.699 đồng.

Lần 21: Ngày 05/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 22: Ngày 05/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 23: Ngày 18/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 24: Ngày 18/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó: 10.800.000 đồng tiền gốc và 1.200.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 177.534 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.200.000 đồng - 177.534 đồng = 1.022.466 đồng.

Lần 25: Ngày 19/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 22 ngày cho L với số tiền là 8.800.000 đồng, trong đó: 7.920.000 đồng tiền gốc và 880.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 130.192 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 880.000 đồng - 130.192 đồng = 749.808 đồng và bà H2 còn nợ lại L số tiền gốc là 2.880.000 đồng.

Lần 26: Ngày 19/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 27: Ngày 26/11/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 18.000.000 đồng, trong đó: 16.200.000 đồng tiền gốc và 1.800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 266.301 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 1.800.000 đồng - 266.301 đồng = 1.533.699 đồng.

Lần 28: Ngày 03/12/2024, bà H2 vay của L số tiền 10.800.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 400.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 20 ngày cho L với số tiền là 8.000.000 đồng, trong đó: 7.200.000 đồng tiền gốc và 800.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 118.356 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 800.000 đồng - 118.356 đồng = 681.644 đồng và bà H2 còn nợ lại L số tiền gốc là 3.600.000 đồng.

Lần 29: Ngày 02/12/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 24.000.000 đồng, trong đó: 21.600.000 đồng tiền gốc và 2.400.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 355.068 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 2.400.000 đồng - 355.068 đồng = 2.044.932 đồng.

Lần 30: Ngày 03/12/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 30 ngày cho L với số tiền là 6.000.000 đồng, trong đó: 5.400.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 88.767 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 600.000 đồng - 88.767 đồng = 511.233 đồng.

Lần 31: Ngày 09/12/2024, bà H2 vay của L số tiền 16.200.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 600.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 11 ngày cho L với số tiền là 6.600.000 đồng, trong đó: 5.940.000 đồng tiền gốc và 660.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 97.644 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 660.000 đồng - 97.644 đồng = 562.356 đồng và bà H2 còn nợ lại L số tiền gốc là 10.260.000 đồng.

Lần 32: Ngày 12/12/2024, bà H2 vay của L số tiền 21.600.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 800.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 08 ngày cho L với số tiền là 6.400.000 đồng, trong đó: 5.760.000 đồng tiền gốc và 640.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 94.685 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 640.000 đồng - 94.685 đồng = 545.315 đồng và bà H2 còn nợ lại L số tiền gốc là 15.840.000 đồng.

Lần 33: Ngày 14/12/2024, bà H2 vay của L số tiền 5.400.000 đồng, thời hạn vay là 30 ngày, mỗi ngày phải trả số tiền 200.000 đồng, lãi suất tương ứng là 135,19%/01 năm, gấp 6,76 lần lãi suất cao nhất theo quy định. Bà H2 đã trả đủ 06 ngày cho L với số tiền là 1.200.000 đồng, trong đó: 1.080.000 đồng tiền gốc và 120.000 đồng tiền lãi (lãi suất cao nhất theo quy định là 17.753 đồng), nên L đã thu lợi bất chính số tiền: 120.000 đồng - 17.753 đồng = 102.247 đồng và bà H2 còn nợ lại L số tiền gốc là 4.320.000 đồng.

Tổng số tiền L cho bà H2 vay là 440.100.000 đồng, L thu lợi bất chính tổng số tiền 38.172.055 đồng và bà H2 còn nợ lại L tổng số tiền gốc là 36.900.000 đồng.

Như vậy, Nguyễn Thị Thùy L đã trực tiếp cho 10 người vay tiền dưới hình thức vay góp, lãi suất cho vay từ 135,19%/01 năm đến 187,18%/01 năm, cao gấp từ 5,77 lần đến 9,36 lần của mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự, với tổng số cho vay là 771.050.000 đồng thu lợi bất chính tổng số tiền 67.267.014 đồng, thì bị phát hiện xử lý.

- Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ:

  • 01 (một) cuốn vở học sinh kẻ ô nhãn hiệu Hòa Bình, bên trong có chữ viết bằng mực bút bi màu xanh thể hiện nội dung liên quan đến việc bị cáo L hoạt động cho vay lãi nặng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, màu trắng, số imei 355565707888288 của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L.

Tại bản Cáo trạng số 105/CT-VKS-BMT, ngày 17/3 /2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thùy L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội đúng như lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và nội dung bản cáo trạng.

Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và giữ nguyên nội dung bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”:

Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Nguyễn Thị Thùy L từ 18 đến 24 tháng cải tạo không giam giữ. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 29/12/2024.

+ Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và đang nuôi dưỡng, chăm sóc con trai đang bị bệnh Ung thư có xác nhận của chính quyền địa phương nên không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy L.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Đề nghị truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L số tiền 686.990.000 đồng (tiền gốc những người vay đã trả), là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 11.292.986 đồng (tiền lãi theo quy định 20%), là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung Ngân sách Nhà nước.

+ Đề nghị truy thu, sung Ngân sách Nhà nước tổng số tiền nợ gốc 84.060.000 đồng, là số tiền nợ gốc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vay của bị cáo nhưng chưa trả, cụ thể thu của: Bà Phạm Thị É số tiền 14.400.000 đồng; bà Huỳnh Thị B số tiền 9.360.000 đồng; bà Ngô Tố N số tiền 6.500.000 đồng; bà Ao Thị Nhật L1 số tiền 2.700.000 đồng; bà Ngô Thị Kim N1 số tiền 5.940.000 đồng; bà Đặng Thị Tuyết M số tiền 1.890.000 đồng; bà Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 5.200.000 đồng; bà Trần Thị Kim T2 số tiền 1.170.000 đồng và bà Trần Thị H2 số tiền 26.900.000 đồng.

+ Đề nghị buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, số tiền thu lợi bất chính là 67.267.014 đồng, cụ thể trả cho: Bà Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 1.429.041 đồng; bà Ao Thị Nhật L1 số tiền 11.247.123 đồng; bà Trần Thị Kim T2 số tiền 2.340.055 đồng; bà Đặng Thị Tuyết M 2.121.616 đồng; bà Ngô Tố N số tiền 4.619.726 đồng; bà Phạm Thị É số tiền 3.749.041 đồng; bà Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 1.074.795 đồng; bà Huỳnh Thị B số tiền 1.670.027 đồng; bà Ngô Thị Kim N1 số tiền 843.534 đồng và bà Trần Thị H2 số tiền 38.172.055 đồng.

+ Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, màu trắng, số imei 355565707888288 của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 (một) cuốn vở học sinh kẻ ô nhãn hiệu Hòa Bình, bên trong có chữ viết bằng mực bút bi màu xanh (bản gốc) thể hiện nội dung liên quan đến việc bị cáo L hoạt động cho vay lãi nặng, là vật chứng của vụ án cần tiếp tục lưu trữ trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 08 tháng 5 năm 2024 đến ngày 21 tháng 12 năm 2024, tại địa bàn thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, thông qua giao dịch dân sự, Nguyễn Thị Thùy L đã cho Nguyễn Thị Thu T1, Phạm Thị É, Huỳnh Thị B, Ngô Tố N, Ao Thị Nhật L1, Ngô Thị Kim N1, Đặng Thị Tuyết M, Nguyễn Thị Kim H1, Trần Thị Kim T2, Trần Thị H2 vay với tổng số tiền 771.050.000 đồng, mức lãi suất từ 135,19%/01 năm đến 187,18%/01 năm, cao gấp từ 5,77 lần đến 9,36 lần của mức lãi suất cao nhất theo quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính tổng số tiền 67.267.014 đồng, thì bị phát hiện xử lý.

Hội đồng xét xử xác định hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L đã cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự.

Điều 201 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

[3]. Xét tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý nhà nước trong hoạt động tín dụng và gây bất bình trong quần chúng nhân dân nên cần áp dụng mức hình phạt phù hợp với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong đời sống xã hội về loại tội phạm này.

[4]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn và đang nuôi dưỡng, chăm sóc con trai đang bị bệnh Ung thư có xác nhận của chính quyền địa phương. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự Hội đồng xét xử xét thấy để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần thiết xử phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo số tiền 50.000.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước, nên không chấp nhận quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột là không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị Thùy L.

[6]. Về việc khấu trừ một phần thu nhập theo quy định tại khoản 3 Điều 31 Bộ luật hình sự: Xét thấy, bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

+ Đối với số tiền số tiền 686.990.000 đồng là tiền gốc mà bị cáo L cho 10 người vay (người vay đã trả cho bị cáo), là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 11.292.986 đồng (tiền lãi theo quy định 20%), mà bị cáo đã hưởng lợi từ hoạt động cho vay, đây là số tiền bị cáo dùng để cho vay và tiền lãi tương ứng mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự mà bị cáo đã thu của người vay nên cần truy thu của bị cáo để sung Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với số tiền 84.060.000 đồng nợ gốc của bị cáo L cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vay nhưng những người này chưa trả, nên cần truy thu của những người này để sung ngân sách Nhà nước, cụ thể như sau: Bà Phạm Thị É số tiền 14.400.000 đồng; bà Huỳnh Thị B số tiền 9.360.000 đồng; bà Ngô Tố N số tiền 6.500.000 đồng; bà Ao Thị Nhật L1 số tiền 2.700.000 đồng; bà Ngô Thị Kim N1 số tiền 5.940.000 đồng; bà Đặng Thị Tuyết M số tiền 1.890.000 đồng; bà Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 5.200.000 đồng; bà Trần Thị Kim T2 số tiền 1.170.000 đồng và bà Trần Thị H2 số tiền 26.900.000 đồng.

+ Đối với số tiền 67.267.014 đồng bị cáo L đã thu lợi bất chính của những người vay tiền nên cần buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy L trả lại cho những người vay cụ thể như sau: Trả cho bà Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 1.429.041 đồng; trả cho bà Ao Thị Nhật L1 số tiền 11.247.123 đồng; trả cho bà Trần Thị Kim T2 số tiền 2.340.055 đồng; trả cho bà Đặng Thị Tuyết M 2.121.616 đồng; trả cho bà Ngô Tố N số tiền 4.619.726 đồng; trả cho bà Phạm Thị É số tiền 3.749.041 đồng; trả cho bà Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 1.074.795 đồng; trả cho bà Huỳnh Thị B số tiền 1.670.027 đồng; trả cho bà Ngô Thị Kim N1 số tiền 843.534 đồng và trả cho bà Trần Thị H2 số tiền 38.172.055 đồng.

+ Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, màu trắng, số imei 355565707888288 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

+ Đối với 01 (một) cuốn vở học sinh kẻ ô nhãn hiệu Hòa Bình, bên trong có chữ viết bằng mực bút bi màu xanh (bản gốc) thể hiện nội dung liên quan đến việc bị cáo L hoạt động cho vay lãi nặng, là chứng cứ của vụ án nên tiếp tục lưu trong hồ sơ vụ án.

[8] Về hành vi và các đối tượng liên quan:

Trong vụ án này, ngoài việc cho những người vay tiền như trên, thì bị cáo Nguyễn Thị Thùy L còn khai nhận còn cho một số người khác vay tiền nhằm thu lợi bất chính, nhưng bị cáo không xác định được nhân thân, lai lịch của người vay tiền, không nhớ rõ số tiền đã cho vay, số tiền lãi suất đã thu được. Do đó, không đủ tài liệu, chứng cứ để chứng minh hành vi vi phạm của bị cáo. Vì vậy, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[9] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 23/12/2024 đến ngày 29/12/2024, 01 ngày tạm giữ quy đổi bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ. Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L còn phải chấp hành 01 (Một) năm 05 (Năm) tháng 09 (Chín) ngày Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự cấp có thẩm quyền nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Nguyễn Thị Thùy L cho Ủy ban nhân dân phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

+ Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thùy L số tiền 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) sung vào Ngân sách Nhà nước.

Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thùy L.

[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 và 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Truy thu của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L số tiền 686.990.000 đồng (tiền gốc những người vay đã trả), là tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội và số tiền 11.292.986 đồng (tiền lãi theo quy định 20%), là tiền do bị cáo phạm tội mà có để sung Ngân sách Nhà nước.

+ Truy thu, sung Ngân sách Nhà nước tổng số tiền nợ gốc 84.060.000 đồng, là số tiền nợ gốc của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã vay của bị cáo nhưng chưa trả, cụ thể thu của: Bà Phạm Thị É số tiền 14.400.000 đồng; bà Huỳnh Thị B số tiền 9.360.000 đồng; bà Ngô Tố N số tiền 6.500.000 đồng; bà Ao Thị Nhật L1 số tiền 2.700.000 đồng; bà Ngô Thị Kim N1 số tiền 5.940.000 đồng; bà Đặng Thị Tuyết M số tiền 1.890.000 đồng; bà Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 5.200.000 đồng; bà Trần Thị Kim T2 số tiền 1.170.000 đồng và bà Trần Thị H2 số tiền 26.900.000 đồng.

+ Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải trả lại cho những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, số tiền thu lợi bất chính là 67.267.014 đồng, cụ thể trả cho: Bà Nguyễn Thị Kim H1 số tiền 1.429.041 đồng; bà Ao Thị Nhật L1 số tiền 11.247.123 đồng; bà Trần Thị Kim T2 số tiền 2.340.055 đồng; bà Đặng Thị Tuyết M 2.121.616 đồng; bà Ngô Tố N số tiền 4.619.726 đồng; bà Phạm Thị É số tiền 3.749.041 đồng; bà Nguyễn Thị Thu T1 số tiền 1.074.795 đồng; bà Huỳnh Thị B số tiền 1.670.027 đồng; bà Ngô Thị Kim N1 số tiền 843.534 đồng và bà Trần Thị H2 số tiền 38.172.055 đồng.

+ Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone12 Promax, màu trắng, số imei 355565707888288 của bị cáo Nguyễn Thị Thùy L sử dụng vào việc phạm tội.

+ Lưu trữ trong hồ sơ vụ án 01 (một) cuốn vở học sinh kẻ ô nhãn hiệu Hòa Bình, bên trong có chữ viết bằng mực bút bi màu xanh (bản gốc) thể hiện nội dung liên quan đến việc bị cáo L hoạt động cho vay lãi nặng, là vật chứng của vụ án.

(Các vật chứng, tài sản có đặc điểm như trong biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản, ngày 17/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk).

[4] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thùy L phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5] Quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.


Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Tp BMT;
  • - Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Chi cục THADS TP BMT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Y Kăn Niê

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (usury)

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự (Usury)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thuỳ L - Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger