Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 02-4 – 2025

V/v "Tranh chấp hôn nhân và gia

đình, ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Tuân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Bích Loan và bà Dương Thị Thúy Duy.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 02 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 53/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp; chỗ ở hiện nay: Số A, tổ D, hẻm T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Huỳnh Thị Bích V, sinh năm 1992; nơi đăng ký thường trú: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện nay: Tổ 04, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V vắng mặt và cùng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V tự tìm hiểu, quen biết. Ông Q và bà V sau đó chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, không tổ chức lễ cưới. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Ông Q và bà V đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Hiện nay, bà V đã có gia đình mới. Bà V và ông Q cùng yêu cầu Tòa án không công nhận cả hai là vợ chồng.

Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim V1, sinh ngày 24/4/2018 và cháu Nguyễn Văn Quốc H, sinh ngày 13/02/2020. Bà V và ông Q thống nhất ông Q được nuôi dạy 02 con chung, bà V sẽ không cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào ngày 17/3/2025. Tại phiên họp, bà V thống nhất với lời trình bày của ông Q về quan hệ hôn nhân, về con chung, về tài sản chung và nợ chung.

- Về tài liệu, chứng cứ:

Các tài liệu, chứng cứ do ông Nguyễn Văn Q giao nộp: Bản tự khai của ông Nguyễn Văn Q (bản chính); Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân (bản chính); Căn cước công dân mang tên Nguyễn Văn Q (photo); Giấy khai sinh Nguyễn Thị Kim V1 (bản sao); Giấy khai sinh Nguyễn Văn Quốc H (bản sao).

Các tài liệu, chứng cứ do bà Huỳnh Thị Bích V giao nộp: Không.

Tại phiên tòa, do ông Q, bà V cùng vắng mặt nên Hội đồng xét xử công bố lời trình bày của ông Q, bà V và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Theo Văn bản số 185/UBND-HT ngày 14/3/2025, UBND thị trấn L cho biết: Sau khi kiểm tra Sổ, bộ H1 tại địa phương từ ngày 01/01/2010 đến ngày 14/3/2025 thì ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1990 và bà Huỳnh Thị Bích V, sinh năm 1992 chưa làm thủ tục đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

- Theo Văn bản số 99/BC-CATT ngày 24/3/2025, Công an thị trấn L cho biết: Bà Huỳnh Thị Bích V, sinh ngày 01/01/1992 đăng ký thường trú tại địa chỉ: Khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang. Hiện nay, bà V sinh sống cùng chồng và 02 con tại: Tổ D, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang.

- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú:

Về tố tụng: Tòa án thụ lý, xác định quan hệ tranh chấp, xác định tư cách đương sự, thu thập chứng cứ đảm bảo quy định của pháp luật tố tụng dân sự; thành phần Hội đồng xét xử không thuộc trường hợp phải thay đổi. Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V cùng có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung: Ông Q, bà V cùng yêu cầu Tòa án tuyên bố cả hai không phải là vợ chồng. Nhận thấy yêu cầu khởi kiện của ông Q là có căn cứ nên đề nghị không công nhận ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V là vợ chồng; về con chung, đề nghị giao con chung là cháu Nguyễn Thị Kim V1, sinh ngày 24/4/2018 và cháu Nguyễn Văn Quốc H, sinh ngày 13/02/2020 cho ông Q được trực tiếp nuôi dưỡng, bà V không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung; về tài sản chung, về nợ chung: Ông Q và bà V cùng thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên đề nghị không đề cập giải quyết.

Các bên đương sự xác định đã cung cấp đầy đủ chứng cứ cho tòa án; không còn cung cấp thêm chứng cứ nào khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V cùng có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là phù hợp với quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thẩm quyền giải quyết:

Bà Huỳnh Thị Bích V thường xuyên sinh sống tại: Tổ D, khóm T, thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang. Căn cứ các điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vụ kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V tự tìm hiểu, quen biết, chung sống với nhau như vợ chồng vào năm 2017, không tổ chức lễ cưới và đến nay cũng không đăng ký kết hôn. Theo Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số: 32/UBND-XNTTHN ngày 20/02/2025 của UBND xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp và Văn bản số 185/UBND-HT ngày 14/3/2025 của UBND thị trấn L, huyện A, tỉnh An Giang cùng xác nhận thông tin về việc ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V chưa đăng ký kết hôn tại địa phương.

Nhận thấy giữa ông Q và bà V chung sống nhưng không đăng ký kết hôn, cả hai chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, tính tình không hòa hợp, đã sống ly thân nhau từ năm 2019 cho đến nay. Bà V hiện nay cũng đã có gia đình riêng. Ông Q và bà V cùng thống nhất yêu cầu Tòa án không công nhận cả hai là vợ chồng. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Q, tuyên bố không công nhận ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V là vợ chồng theo quy định tại Điều 9, Điều 14, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3.2] Về con chung: Quá trình chung sống, ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V có 02 (hai) con chung, gồm: Nguyễn Thị Kim V1, sinh ngày 24/4/2018 và Nguyễn Văn Quốc H, sinh ngày 13/02/2020. Hiện cháu V1 đang sống cùng bà V và cháu H đang sống cùng ông Q.

Sau khi xem xét yêu cầu của ông Q và bà V. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con chung, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận để ông Q được tiếp tục nuôi dạy hai con chung, bà V không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Bà Huỳnh Thị Bích V cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Nguyễn Văn Q. Ngược lại, ông Q cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V cùng thống nhất khai không có, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác:

Ông Nguyễn Văn Q phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm; bà Huỳnh Thị Bích V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[5] Về quyền kháng cáo: Ông Q và bà V có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14, các điều 53, 57, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ các điều 147, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn Q.

1. Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V là vợ chồng.

2. Về con chung: Ông Nguyễn Văn Q được trực tiếp nuôi dạy 02 (hai) con chung tên: Nguyễn Thị Kim V1, sinh ngày 24/4/2018 và Nguyễn Văn Quốc H, sinh ngày 13/02/2020. Bà Huỳnh Thị Bích V không phải cấp dưỡng để nuôi dạy con chung.

Bà Huỳnh Thị Bích V cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) phải tôn trọng quyền được nuôi con của ông Nguyễn Văn Q. Ngược lại, ông Q cùng các thành viên trong gia đình (nếu có) không được cản trở bà V trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

3. Về án phí sơ thẩm và các chi phí tố tụng khác: Ông Nguyễn Văn Q phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí mà ông Q đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010347 ngày 05/3/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú, tỉnh An Giang. Bà Huỳnh Thị Bích V không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án tuyên công khai vắng mặt ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V. Ông Q và bà V có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

5. Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện An Phú;
  • - THADS huyện An Phú;
  • - Đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Phạm Tuân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 02/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn

  • Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Văn Q và bà Huỳnh Thị Bích V tự tìm hiểu, quen biết. Ông Q và bà V sau đó chung sống như vợ chồng, không đăng ký kết hôn, không tổ chức lễ cưới. Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hòa hợp, không tìm được tiếng nói chung. Ông Q và bà V đã sống ly thân từ năm 2019 cho đến nay, không hàn gắn tình cảm. Hiện nay, bà V đã có gia đình mới. Bà V và ông Q cùng yêu cầu Tòa án không công nhận cả hai là vợ chồng. Về con chung: Có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Kim V1, sinh ngày 24/4/2018 và cháu Nguyễn Văn Quốc H, sinh ngày 13/02/2020. Bà V và ông Q thống nhất ông Q được nuôi dạy 02 con chung, bà V sẽ không cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Về tài sản chung, nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger