Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày: 27-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Trung Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đoàn Nam Lê Thiện;
  2. Bà Nguyễn Thị Bửu Huệ.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Ninh, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Tố Mai, Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 23/2025/HS-ST ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2025/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2025/HSST-QĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Phạm Thanh T, sinh năm 1986 tại tỉnh Nghệ An; thường trú: Xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; chỗ ở: Khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Phạm Xuân T1, sinh năm 1961 và bà Lê Thị C, sinh năm 1963; bị cáo có 02 chị em ruột, lớn sinh năm 1983 và nhỏ sinh năm 1995; có vợ tên Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991; có 01 con, sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam ngày 24/6/2024 cho đến nay; có mặt.

2. Lương Thái S, sinh năm 2001 tại tỉnh Bình Phước; thường trú: Ấp P, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; con ông Lương Văn L, sinh năm 1973 và bà Lê Thị H, sinh năm 1981; bị cáo có 01 em, sinh năm 2006; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giam ngày 28/8/2024 cho đến nay; có mặt.

- Bị hại: Chị Thạch Thị K, sinh năm 2000; thường trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Vắng mặt;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trương Hồng N, sinh năm 1976; thường trú: Tổ C, khu phố E, phường T, thành phố B, tỉnh Bình Dương; Có mặt.
  2. Ông Thạch K1, sinh năm 1973; thường trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; vắng mặt.
  3. Bà Lê Thị H, sinh năm 1981; thường trú: Ấp P, xã B, huyện P, tỉnh Bình Phước; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thạch Thị K, rời khỏi quê tại An Giang đến thành phố Hồ Chí Minh để tìm việc làm từ ngày 08/02/2022, khi đó K đã tìm được việc làm thuê tại một quán ăn trên địa bàn huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày 01/3/2022, do cảm thấy công việc đang làm vất vả nên chị K tìm kiếm trên mạng xã hội Facebook thì phát hiện thông tin quảng cáo tuyển dụng làm nhân viên quán Karaoke của S. Thấy vậy, chị K liên hệ nhắn tin thì được S giới thiệu công việc làm tiếp viên phục vụ phòng hát trong quán Karaoke trên địa bàn tỉnh Bình Dương với mức tiền từ 300.000 đồng/phòng/lần, thu nhập mỗi tháng từ 8.000.000 đồng trở lên, có thể thu nhập được 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng, được bao ăn uống và có chỗ ở cho nhân viên. Sau khi trò chuyện qua trang Facebook, S kết bạn qua tài khoản Zalo tên “Thạch Thị K” (đăng ký bằng số điện thoại 0328.824.xxx) của chị K để tiếp tục trò chuyện và hẹn gặp mặt.

Quá trình nhắn tin trò chuyện với chị K, S tư vấn, giới thiệu công việc với nội dung:

  • Công việc là làm nhân viên nữ trong quán karaoke tại tỉnh Bình Dương (không nói là quán nào), nhiệm vụ phục vụ trong phòng hát, bấm bài hát, rót bia cho khách.
  • L1 được nhận trực tiếp từ tiền bo của khách, dao động từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng.
  • Quán bao ăn, ở tại quán.
  • Khi vào làm việc, chị K phải đưa cho S số tiền 6.000.000 đồng tiền chi phí hợp đồng lao động, đăng ký tạm trú, phí tìm việc làm. Nếu không có tiền thì có thể mượn chủ quán Karaoke để đưa cho S, vào làm việc trong quán Karaoke nếu trong vòng 3 tháng tiếp tục làm việc thì bị S sẽ trả lại số tiền 6.000.000 đồng.

Thực tế, những lời giới thiệu công việc của S với khoản tiền thu nhập từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng/tháng là do S tự bịa đặt ra để nhằm lừa gạt thu hút những người xin việc do thu nhập cao, công việc nhẹ. Ngoài ra, đối với số tiền 6.000.000 đồng mà S nói là chi phí hợp đồng lao động, đăng ký tạm trú, phí tìm việc làm, có thể mượn tiền chủ quán để đưa cho S, nếu sau 3 tháng vẫn tiếp

tục làm việc tại đây thì S sẽ trả lại, đây cũng là lời do S bịa đặt ra để người xin việc cảm thấy tin tưởng sẽ được trả lại tiền nhưng thực tế S sau khi nhận được tiền khi đưa nhân viên đến quán sẽ xoá tài khoản Z, chặn tất cả mọi liên lạc.

Qua những lời giới thiệu của S thì chị K đồng ý đến quán Karaoke làm việc. Sáng ngày 02/3/2022, S gửi vị trí để Kim tự bắt xe G đi đến quán K2 thuộc thị xã T (nay là thành phố T), tỉnh Bình Dương để gặp mặt. Sau khi gặp chị K, S dẫn chị K vào quán K2 gặp quản lý nói chuyện. Tại đây, chị K được người quản lý của quán này đưa ra thỏa thuận về việc người quản lý sẽ ứng ra số tiền 6.000.000 đồng cho Kim mượn để đưa cho S. Nhưng do ngoại hình chị K không đẹp nên quản lý quán không đồng ý cho chị K làm việc tại đây.

Tiếp đó, S điều khiển xe mô tô kiểu dáng xe tay ga màu đen (không rõ biển số) chở chị K đi đến quán K2 tại địa chỉ: Số F, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Trên đường đi, S sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, gắn sim số 0818119086 gọi điện thoại cho Phạm Thanh T (T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, gắn sim số: 0979673767) để hỏi về việc tại quán K2 còn tuyển nhân viên nữ không thì T trả lời vẫn còn tuyển. Tuy nhiên, tại thời điểm trên T đang chở con đi khám bệnh ở Thành phố Hồ Chí Minh, không có mặt tại quán K2 nên T hỏi S đã trao đổi công việc và số tiền phải trả với chị K chưa thì S nói đã trao đổi công việc và chị K đã đồng ý. Do vậy, T nói với S cứ đưa chị K đến quán K2 rồi để nhân viên nam đưa chị K lên phòng nghỉ trước, sau khi T về đến quán sẽ chuyển khoản trả tiền phí cho S. Khi S chở chị K đến quán K2 thì chỉ gặp 01 nhân viên nam (chưa xác định được nhân viên tên gì) đang làm việc ở đây, S nói với nhân viên này đã có trao đổi với T thì người này dẫn chị K lên phòng ngủ (lầu 4) của quán rồi S rời khỏi quán. Đến khoảng 13 giờ 25 phút cùng ngày, T sử dụng số tài khoản 106867814598 tên PHAM THANH TUAN mở tại Ngân hàng V chuyển khoản đến tài khoản số 0886160248 tên LUONG THAI SON mở tại Ngân hàng M1 cho S số tiền 6.200.000 đồng (trong đó: 6.000.000 đồng là tiền công giới thiệu đã thoả thuận trước, 200.000 đồng là S xin thêm tiền xăng). Tiếp đó, khoảng 16 giờ cùng ngày, T mới đến phòng ngủ của nhân viên nữ để gặp gỡ chị K. Tại đây, T vẫn tiếp tục giới thiệu về công việc của nhân viên nữ khi làm việc tại quán gồm: phục vụ trong phòng hát, gắp đá, rót bia, bấm bài hát cho khách, uống bia cùng khách; làm việc tại quán sẽ không trả lương mà trực tiếp nhận tiền từ khách và quán chỉ lấy lại 50.000 đồng (tiền bàn); được bao ăn uống và ngủ tại quán. Đối với khoản tiền 6.000.000 đồng mà bị can T đã chuyển khoản cho S thì T nói với chị K rằng đây là phí môi giới cho S khi đã dẫn chị K đến quán làm việc, hiện T cho chị Kim M số tiền này để đưa trước cho S, sau khi làm việc tại quán có tiền sẽ trả dần cho T. Đồng thời, T còn yêu cầu chị K phải nợ thêm số tiền 2.000.000 đồng của T với lý do là tiền “thế chân” khi làm việc ở đây, nếu đã trả hết nợ, muốn nghỉ việc thì T sẽ trả lại cho chị K.

Quá trình làm việc tại quán K2, chị K không bị ép buộc tiếp khách, vẫn được sử dụng điện thoại để liên lạc và giải trí, tuy nhiên nếu muốn đi ra ngoài mua đồ dùng cá nhân thì phải được nhân viên nam của quán chở đi rồi chở về quán. Đến tối ngày 04/3/2022, chị K không muốn tiếp tục làm việc nữa nên đã nhắn tin cho T xin nghỉ việc nhưng T động viên chị K tiếp tục làm việc để trả nợ, chị K nói không có tiền trả nợ nên T đùa giỡn và nhắn tin “để a kêu ai mua thận e bán nhá”, nội dung tin nhắn này T và chị K đã tự xoá, chỉ còn hình ảnh chụp màn hình. Sau đó, chị K vẫn đồng ý tiếp tục làm việc để có tiền trả nợ cho T.

Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 05/3/2022, chị K suy nghĩ không muốn làm việc trong quán K2. Do vậy, chị K đã từ lầu 4 của quán (nơi phòng ngủ), ra phía sau nơi có hàng rào B40 đã bị cắt rồi leo ra phía sau quán, bám vào đường ống đồng của máy lạnh để leo xuống đất. Khi gần đến đất do đường dây đồng không còn nữa, chị K buông tay để nhảy xuống đất nhưng do không quan sát kĩ nên khoảng cách còn cao dẫn đến chị K bị ngã ở tư thế nằm ngửa, đập lưng và mông xuống mặt đất, không thể di chuyển được. Chị K truy hô các nhân viên trong quán ra hỗ trợ đưa đến Bệnh viện Q để cấp cứu, được chuyển đến Bệnh viện Q1 để điều trị. Tại đây, Bác sĩ chẩn đoán: Chấn thương cột sống tuỷ sống: Vỡ xẹp nhiều mảnh L2, hẹp ống sống, chèn ép thần kinh, hạ liệt một phần, mất vững cột sống. Đến ngày 17/3/2022, chị K xuất viện về nhà tại xã C, huyện T, tỉnh An Giang.

Tại Cáo trạng số: 59/CT-VKS-DA ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố các bị cáo Phạm Thanh T, Lương Thái S phạm tội “Mua bán người” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 150; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Phạm Thanh T với mức hình phạt từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 150; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt Lương Thái S với mức hình phạt từ 5 năm 6 tháng đến 6 năm 6 tháng tù.
  • Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo T bồi thường cho bị hại K số tiền 41.800.000 (bốn mươi mốt triệu tám trăm nghìn) đồng, bị hại không yêu cầu gì khác. Cha bị hại ông K1 yêu cầu các bị cáo bồi thường 100.000.000 đồng chi phí điều trị sau khi xuất viện nhưng không cung cấp hóa đơn, chứng từ nên không có căn cứ xem xét.
  • Về xử lý vật chứng:
    • Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7, gắn sim số: 0818119086 để gọi điện thoại cho T. Tuy nhiên, điện thoại di động và sim số trên

do thời gian đã lâu nên S đã vứt đi, không còn sử dụng. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không thu giữ được.

Đối với 01 (một) xe mô tô kiểu dáng xe tay ga được bị cáo S sử dụng để chở chị K đến quán K2, S khai nhận là xe S mua lại của người khác dùng làm phương tiện đi lại, S đã bán xe cho người khác không rõ nhân thân lai lịch. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không thu giữ được.

Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X màu trắng, gắn sim số: 0979673767 T sử dụng để liên lạc với S. Hiện chiếc điện thoại này đã hư hỏng và T đã vứt đi không sử dụng và không còn sử dụng sim số này nữa. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không thu giữ được.

- Số tiền 6.200.000 đồng mẹ của bị cáo S nộp tiền thu lợi bất chính đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng đồng thời các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ vào lời khai của các bị cáo; các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Lương Thái S đăng bài tuyển dụng trên mạng xã hội và khi trực tiếp gặp gỡ với chị Thạch Thị K thì S đã đưa ra các thông tin gian dối về thu nhập mỗi tháng cao, công việc nhẹ nhàng, được bao ăn, ở để thu hút, làm cho chị K tin tưởng những thông tin do S cung cấp. Mục đích chính của S là lừa gạt để chị K nghe những lời giới thiệu trên và đồng ý làm việc ở quán K2, sau đó S chở chị K đưa đến quán K2 để chuyển giao chị K và nhận được tiền từ Phạm Thanh T. Sau khi đưa ra các thông tin khiến chị K tin tưởng và đưa được chị K đến quán K2 thì S đã chặn liên lạc, tránh việc chị K liên lạc lại phản ánh công việc. Hành vi của các bị cáo đưa ra thông tin gian dối để thực hiện việc chuyển giao, tiếp nhận người và giao nhận số tiền 6.000.000 đồng đủ yếu tố cấu thành về tội “Mua bán người” theo điểm a khoản 1 Điều 150 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Do đó, Cáo trạng số: 59/CT-VKS-DA ngày 15 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người, coi con người như món hàng hóa trao đổi, mua bán nhằm thu lợi bất chính. Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đưa ra thông tin gian dối để thực hiện chuyển giao người và giao nhận tiền dưới hình thức môi giới việc làm là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc, xem xét tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo đủ để giáo dục cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T tự nguyện bồi thường cho bị hại, gia đình bị cáo S nộp tiền thu lợi bất chính. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[7] Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Từ những nhận định trên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành những công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung. Các bị cáo là người trực tiếp thực hiện việc chuyển giao người và thu lợi ích vật chất nên có mức hình phạt như nhau.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 150 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối các cũng đủ răn đe, giáo dục các bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Phạm Thanh T đã chủ động bồi thường cho gia đình chị Thạch Thị K tổng số tiền 41.800.000 đồng (Bốn mươi mốt triệu tám trăm nghìn đồng là tiền chi phí điều trị tại bệnh viện và tiền tổn thất tinh thần. Bị hại K đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bồi thường gì khác. Ông K1 – cha ruột bị hại có yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 100.000.000 đồng chi phí điều trị - chăm sóc bị hại sau khi xuất viện, số ngày công nghỉ việc để chăm sóc bị hại nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ, Tòa án đã triệu tập bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng vắng mặt nên không có căn cứ xem xét yêu cầu của ông K1.

[9] Số tiền 6.200.000 đồng bị cáo S tác động bà H nộp tiền thu lợi bất chính từ việc chuyển giao người cần tuyên thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10] Trong quá trình quản lý, làm việc các nữ nhân viên vẫn được tự do đi lại, tự do sử dụng điện thoại di động để liên lạc, số tiền thu của các nữ nhân viên là theo thỏa thuận trước khi vào làm việc, không bị ép buộc, các nhân viên vẫn được giữ lại số tiền khách bo sau khi trừ đi các khoản. Thương tích của bị hại K là do Kim tự leo xuống từ lầu 4 quán K2 không bị T ép buộc, tác động. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D không xử lý hình sự về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, tội “Cưỡng đoạt tài sản” và “Cố ý gây thương tích” đối với các bị cáo là phù hợp.

[11] Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt đối với các bị cáo; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Thanh T, Lương Thái S phạm tội “Mua bán người”.

1.1 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 150; Điều 38; điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Phạm Thanh T 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 24/6/2024.

1.2 Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 150; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Xử phạt bị cáo Lương Thái S 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam từ ngày 28/8/2024.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 89; điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 6.200.000 (sáu triệu hai trăm nghìn) đồng theo Lệnh thanh toán ngày 15/01/2025.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Các bị cáo Phạm Thanh T, Lương Thái S, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận:

  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - UBND xã, phường bị cáo thường trú;
  • - UBND xã, phường (nơi phát hiện tội phạm);
  • - Phòng PV 06 Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Phân trại tạm giam khu vực thành phố Dĩ An;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Phạm Thị Trung Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (mua bán người)

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán người)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thanh Tuấn và đồng phạm phạm tội Mua bán người
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger