Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày: 21/3/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Bằng

Bà Nguyễn Thị Hường

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 128/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Dương Ngọc T, sinh năm 1993;
  2. Nơi cư trú: Xóm P, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Con ông Dương Minh C, sinh năm 1964 và con bà Phương Thị N, sinh năm 1963; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con út; Vợ, con: Chưa có.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố B. (Có mặt)

  3. Nông Đình K, sinh năm 1993;
  4. Nơi cư trú: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Con ông Nông Đình B, sinh năm 1957 và con bà Nông Thị S, sinh năm 1960; gia đình có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 7; Có vợ là Phan Thị L, sinh năm 1994 và có 01 con sinh năm 2015.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam thành phố B. (Có mặt)

Người bào chữa cho bị cáo Dương Ngọc T: Ông Nguyễn Việt K1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh B (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 09/01/2025, Dương Ngọc T đi xe ôm của một người không quen biết từ nhà trọ ở khu Đ, phường N, thành phố B đến khu vực thành phố T tìm mua ma tuý Heroine. Khi đến thành phố T, T bảo lái xe ôm dừng xe và một mình đi bộ tìm mua ma túy. Đi được một đoạn, T gặp và hỏi mua một người đàn ông không quen biết trông giống người nghiện 1.000.000 đồng ma túy Heroin được 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 túi nilon màu trắng bên trong có nhiều đoạn ống hút nhựa nhiều màu khác nhau, bên trong các đoạn ống hút nhựa đều chứa chất bột màu trắng. T biết đây là ma túy Heroine nên nhận và cầm về rồi bắt xe về phòng trọ ở khu Đ, phường N, thành phố B. Đến khoảng 10 giờ 30 phút ngày 10/01/2025, khi T đang một mình ở phòng trọ thì Nông Đình K đến gặp và hỏi “Anh có ma tuý heroine không bán cho em 150.000 đồng”. T bảo “Có”. Sau đó, K đưa cho T số tiền 150.000 đồng gồm 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng trên mặt tờ tiền có ghi chữ “Kh” và 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng. T nhận tiền rồi đưa cho K 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng và 01 đoạn ống hút nhựa màu cam đều được hàn kín hai đầu bên trong đều chứa ma túy Heroine cho vào 01 túi nilon màu xanh rồi đưa cho K. K biết đây là ma túy H nên cầm ở tay phải rồi đi bộ đi tìm nơi sử dụng.

Khoảng 11 giờ 25 phút ngày 10/01/2025, tại khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, tổ công tác của đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma tuý Công an thành phố B phối hợp với Công an phường N bắt quả tang Nông Đình K, sinh năm 1993, HKTT: Xóm B, xã Đ, huyện T, tỉnh Cao Bằng có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía trước bên phải của K đang mặc: 01 túi nilon màu xanh, bên trong có 03 đoạn ống hút nhựa đều được hàn kín hai đầu gồm 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng và 01 đoạn ống hút nhựa màu cam, bên trong mỗi đoạn ống hút này đều có chứa chất bột màu trắng. Nông Đình K khai số ma túy trên K mua của T với giá 150.000 đồng để sử dụng cho bản thân, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt quả tang thu giữ.

Ngày 10/01/2025, Dương Ngọc T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố B đầu thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tự nguyện giao nộp:

  • - 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 đoạn ống hút nhựa màu xanh được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng, 02 đoạn ống hút nhựa màu vàng được hàn kín hai đầu bên trong chứa chất bột màu trắng. Lực lượng Công an tiến hành niêm phong 02 túi nilon trên vào phong bì thư (ký hiệu M1).
  • - 01 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng (trên mặt tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có chữ "Kh"). Lực lượng Công an tiến hành niêm phong 02 tờ tiền trên vào phong bì thư.

Tại bản Kết luận giám định số 327/KL-KTHS ngày 12/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B (chất ma túy thu giữ của K), kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong 01 phong bì thư gửi giám định có khối lượng 0,1548 gam; Là ma túy; Loại ma túy: Heroine”.

Tại bản Kết luận giám định số 328/KL-KTHS ngày 12/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B (chất ma túy thu giữ của T), kết luận: “Chất bột màu trắng bên trong phong bì thư ký hiệu M1 gửi giám định có khối lượng 0,9720 gam, là ma túy, loại ma túy: Heroine”

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Dương Ngọc T và Nông Đình K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 70/CT-VKSTPBN ngày 05/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố Dương Ngọc T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố Nông Đình K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, các bị cáo thừa nhận Cáo trạng truy tố các bị cáo về tội danh là đúng người, đúng tội. Bị cáo T và bị cáo K đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo theo Cáo trạng. Trong phần luận tội đã phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Nông Đình K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Ngọc T từ 32 đến 38 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Đình K từ 14 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.

Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy mẫu vật là ma túy còn lại sau giám định. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 150.000 đồng.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nông Đình K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật; bị cáo Dương Ngọc T là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí theo quy định.

Chủ tọa phiên tòa công bố bản luận cứ của người bào chữa cho bị cáo Dương Ngọc T là trợ giúp viên pháp lý Nguyễn Việt K1 đưa ra quan điểm như sau:

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Về tình tiết giảm nhẹ đề nghị Hội đồng xem xét: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải trong suốt quá trình điều tra truy tố xét xử nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Dương Minh C được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba, mẹ đẻ là bà Phương Thị N1 được tặng thưởng huy chương chiến sỹ vẻ vang, sau khi phạm tội đã tự nguyện ra cơ quan công an để đầu thú. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, đề nghị cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Từ những căn cứ trên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất, giúp bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm trở thành công dân có ích cho xã hội. Bị cáo là người dân tộc thiểu số cư trú tại điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, là lao động tự do thuần túy, không có việc làm ổn định cũng như không có tài sản riêng nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm và không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Các bị cáo nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt; bị cáo T nhất trí với quan điểm luận cứ của người bào chữa, không tranh luận bổ sung.

Lời nói sau cùng, các bị cáo hối hận về hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng:
  2. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đều không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

    Tại phiên tòa, người bào chữa cho bị cáo Dương Ngọc T có đơn xin xét xử vắng mặt, bị cáo Dương Ngọc T đồng ý xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo, căn cứ khoản 1 Điều 291 Bộ luật Tố tụng hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bào chữa cho bị cáo T đúng quy định của pháp luật.

  3. Về nội dung vụ án:
  4. Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với không gian, địa điểm, phù hợp với lời khai của các bị cáo, người chứng kiến tại cơ quan điều tra, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện:

    Hồi 11 giờ 25 phút ngày 10/01/2025, tại khu S, phường N, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, Nông Đình K có hành vi tàng trữ trái phép 0,1548 gam ma túy Heroine để sử dụng cho bản thân. K khai nhận số ma túy trên do K mua của Dương Ngọc T. Cùng ngày, T đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đầu thú về hành vi bán trái phép chất ma túy cho K và tự nguyện giao nộp 0,9720 gam ma túy Heroine là ma túy T cất giấu để bán kiếm lời. Tổng khối lượng ma túy T bán cho K và cất giấu để bán là 1,1268 gam ma túy Heroine.

    Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo Dương Ngọc T cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và hành vi phạm tội của bị cáo Nông Đình K cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

  5. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy.
  6. Ngoài ra, ma túy là chất gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, đồng thời là nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác. Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại của ma túy cũng như những quy định của pháp luật nghiêm cấm đối với tất cả các hành vi phạm tội liên quan đến ma túy nhưng vẫn vi phạm, do vậy cần phải xử lý nghiêm các bị cáo bằng pháp luật hình sự đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

  7. Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
  8. Các bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

    Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của bản thân. Vì vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Bị cáo Dương Ngọc T có bố đẻ là ông Dương Minh C được tặng thưởng Huân chương chiến công hạng ba và Huy chương chiến sĩ vẻ vang, mẹ đẻ bị cáo là bà Phương Thị N có tham gia kháng chiến chống Pháp được hưởng trợ cấp một lần; sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên bị cáo T được hưởng thêm hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Không chấp nhận áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo T là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn như quan điểm người bào chữa bởi lẽ bị cáo đã học đến lớp 10/12, trước khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có sinh sống và lao động tại thành phố B nên bị cáo đủ khả năng nhận thức hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự.

  9. Xét tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án:
  10. Hội đồng xét xử nhận thấy hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo Dương Ngọc T và hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo Nông Đình K được thực hiện độc lập, không liên quan đến nhau nên không thuộc trường hợp đồng phạm. Các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tội danh độc lập.

  11. Về hình phạt bổ sung:
  12. Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

  13. Về vật chứng:
  14. Ma túy là chất Nhà nước cấm nên cần tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.

    Đối với số tiền 150.000 đồng là tiền thu lợi bất chính do bị cáo T phạm tội mà có nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

  15. Đối với người đàn ông bán trái phép chất ma túy cho T vào tối ngày 09/01/2025 tại thành phố T, tỉnh Bắc Ninh, T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người này ở đâu nên Cơ quan cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ để làm rõ, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
  16. Về án phí:
  17. Bị cáo Dương Ngọc T thuộc người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn và bị cáo đề nghị miễn án phí nên miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo T.

    Bị cáo Nông Đình K phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Dương Ngọc T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Nông Đình K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Dương Ngọc T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.
  3. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nông Đình K 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/01/2025.
  4. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Dương Ngọc T, Nông Đình K mỗi bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo thi hành án.
  5. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định trong 02 phong bì thư được niêm phong dán kín, đựng mẫu vật hoàn trả theo Kết luận giám định số 327 và 328 ngày 12/01/2025 của Phòng K2 Công an tỉnh B.
    • Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 150.000 đồng theo 01 gói niêm phong có mã tài sản 111000014451A hiện đang gửi tại K Bắc Ninh theo Biên bản bàn giao, tiếp nhận tài sản để bảo quản số 03/2025/BBBQ-KBBN ngày 13/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT – Công an TP B.
    • (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 86 ngày 19/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh).
  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 12, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
    • Bị cáo Nông Đình K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Dương Ngọc T.
  7. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND, CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP. Bắc Ninh;
  • - Phân trại tạm giam TP Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lưu Thị Tuyết Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 21/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger