Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Đ

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 13- 12- 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Chiều

Ông Đỗ Xuân Trường

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Như Hoàng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện D, Thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 110/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 107/2024/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 12 năm 2024, đối với:

- Bị cáo: Phùng Văn T, sinh năm 1978 tại quận B, Hà Nội; nơi đăng ký KHTT và cư trú: Tổ dân phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phùng Văn T1 (đã chết), con bà Nguyễn Thị B (đã chết); có vợ và có 02 con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, có 01 tiền án: Ngày 19/12/2016, Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội xử phạt 07 năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy (chấp hành xong hình phạt ngày 11/02/2022); tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/5/2024, Công an quận B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản ngày 19/4/2024; Ngày 16/7/2024, bị Công an huyện Đ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản ngày 20/02/2024; danh bản, chỉ bản số 362 do Công an huyện Đ lập ngày 31/10/2024; tạm giam: Từ ngày 31/10/2024 đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Công C, sinh năm 1961; địa chỉ: Số B tổ B, phường D, quận C, thành phố Hà Nội; vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thúy L, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phùng Văn T là đối tượng nghiện chất ma túy có một tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy và mới chấp hành xong hình phạt tháng 02 năm 2022. T không có công việc ổn định, lúc làm lúc nghỉ và tại thời điểm tháng 03 năm 2024, T đang không có việc làm. Do nhu cầu chi tiêu cá nhân nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền. Ngày 20/02/2024 T đã trộm cắp tài sản ở làng nghề xã L nhưng đến ngày 16/7/2024, T mới bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính. T biết xưởng giáo sắt ở khu vực ngã ba đê thuộc cụm C, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội của ông Nguyễn Công C có nhiều giáo sắt để trên đường cơ đê, không có người trông coi nên vào khoảng 20 giờ 15 phút ngày 23/3/2024, T sử dụng xe máy Angel, biển kiểm soát 33M5- 4058 đến lấy trộm được 04 chân giáo sắt hình chữ H, cao 1,7m, rộng 1,2m, phi 42mm, cho lên xe máy chở về cất giấu tại khu vực gần chân điếm canh số 1 thuộc Tổ dân phố Đ, phường T, quận B, thành phố Hà Nội. Tại đây, T thấy một người phụ nữ không quen biết, làm nghề mua đồng nát nên T bán cho người này được số tiền 155.000 đồng.

Đến khoảng 03 giờ sáng ngày 24/3/2024, T lại tiếp tục đi xe máy đến và lấy trộm 04 chân giáo sắt như lần trước, cho lên xe máy mang về cất giấu ở chỗ cũ. Đến sáng hôm sau thì T bán số chân giáo sắt lấy trộm được cho một phụ nữ đi mua đồng nát (không phải người phụ nữ lần trước) được số tiền 155.000 đồng.

Khoảng 01 giờ 30 phút sáng ngày 26/3/2024, T lại tiếp tục đến xưởng của ông C lén lút lấy trộm 17 thanh chống dầm sắt dài 120 cm, phi 48 mm, dày 2,2mm, 02 đầu hàn móc sắt dài 12 cm. Đúng lúc đó, anh C1 là con trai ông C kiểm tra camera lắp trước cửa xưởng thì phát hiện sự việc và đã báo công an xã L. Khi T đang buộc các thanh dầm sắt để đưa lên xe máy mang đi cất giấu thì bị ông C đi đến bắt quả tang. Sau đó, Công an xã L, huyện Đ đưa T về trụ sở làm việc.

Tại các Bản kết luận định giá tài sản số 49/KL-HĐĐGTS ngày 03/7/2024 và số 59/KL-HĐĐGTS ngày 07/8/2024 của Hội đồng đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận 08 chân giáo sắt loại chữ H, kích thước cao 1,7 m, rộng 1,2 m, phi 42 mm trị giá 1.872.000 đồng và 17 thanh chống dầm sắt kích thước mỗi thanh dài 120 cm, phi 48 mm, dày 2,2mm, 02 đầu hàn móc sắt dài 12 cm trị giá 1.071.000 đồng. Tổng giá trị tài sản T đã chiếm đoạt của ông C là 2.943.000 đồng.

Bản Cáo trạng số 110/CT- VKĐP ngày 22 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội truy tố Phùng Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Phùng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như đã khai trong

quá trình điều tra và xin Hội đồng xét xử khoan hồng cho bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 12 đến 15 tháng tù. Không đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự xử lý vật chứng trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy L chiếc xe máy Angel, biển kiểm soát 33M5- 4058. Về nghĩa vụ dân sự: Buộc bị cáo bồi thường trả cho ông C số tiền 1.872.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Đ. Các hành vi và quyết định của Điều tra viên, Cơ quan điều tra, Kiểm sát viên và Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đều thực hiện có căn cứ, đúng trình tự tố tụng qui định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.
  2. Về nội dung: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận rõ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với đơn trình báo và lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Liên tiếp trong các ngày 23, 24 và 26/3/2024, Phùng Văn T đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Công C ở khu vực ngã ba đê thuộc cụm C, xã L, huyện Đ, thành phố Hà Nội, với tổng giá trị tài sản đã chiếm đoạt là 2.943.000 đồng.
  3. Mặc dù giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt của ông C từng lần đều dưới 2.000.000 đồng, tuy nhiên, bị cáo thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian, các hành vi xâm phạm đó chưa có lần nào bị xử phạt hành chính và chưa hết thời hiệu xử phạt hành chính. Tổng trị giá tài sản của các lần bị xâm phạm trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự. Do đó, căn cứ hướng dẫn tại điểm 3 Mục I của Công văn 64/TANDTC-PC ngày 03/9/2019Tòa án nhân dân Tối cao thì bị cáo phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
  4. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được Nhà nước bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực hành vi, có sức khỏe để lao động kiếm sống nhưng không chịu tu dưỡng bản thân, sa vào tệ nạn ma túy, luôn muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để có tiền thỏa mãn nhu cầu bản thân. Bị cáo có nhân thân xấu, trước khi bị phát hiện, bị cáo cũng đã trộm cắp tài sản của người khác nhưng đến tháng 7 năm 2024 bị cáo mới bị xử phạt hành chính. Khi hành vi lần này bị phát hiện, trong khi cơ quan điều tra chưa khởi tố bị can thì tháng 4 năm 2024, bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp. Điều đó cho thấy ý thức bị cáo coi thường pháp luật, không chịu tu dưỡng bản thân. Vì vậy,

việc xử lý đối với bị cáo là cần thiết và phải áp dụng đối với bị cáo hình phạt tù, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo bị cáo.

[5] Đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo khi quyết định hình phạt:

  • [5.1] Bị cáo có một tiền án, mới chấp hành xong hình phạt năm 2022 chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội. Vì vậy, lần phạm tội này của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • [5.2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận các hành vi phạm tội; tội phạm mà bị cáo phạm phải là tội ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính còn quy định hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, không có thu nhập để đảm bảo thi hành án nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng: chiếc xe máy Angel, biển kiểm soát 33M5 - 4058 bị cáo sử dụng để đi trộm cắp là tài sản của chị Nguyễn Thị Thúy L, vợ bị cáo, được người khác tặng cho riêng. Chị L không biết bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên không phạm tội. Hội đồng xét xử sẽ trả lại chiếc xe cho chị L.

01 chiếc mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen; 01 quần bò màu xanh; 01 áo sơ mi màu xanh là những vật dụng bị cáo sử dụng trên người khi đi trộm cắp, không còn giá trị sử dụng nên sẽ tịch thu tiêu hủy.

[8] Về nghĩa vụ bồi thường thiệt hại: Trong số các tài sản bị cáo đã chiếm đoạt, có 08 chân giáo sắt loại chữ H, kích thước cao 1,7 m, rộng 1,2 m, phi 42mm trị giá 1.872.000 đồng bị chiếm đoạt ngày 23/3/2024 và ngày 24/3/2024, bị cáo đã bán mất không thu hồi được. Ông Nguyễn Công C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.872.000 đồng bằng giá trị tài sản là có căn cứ. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường cho ông C 1.872.000 đồng.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Phùng Văn T 09 ( chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 31/10/2024.

  2. Căn cứ Điều 170, Điều 584, 585 và Điều 589 của Bộ luật dân sự: Buộc

bị cáo Phùng Văn T bồi thường cho ông Nguyễn Công C số tiền 1.872.000 đồng (Một triệu tám trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

Kể từ ngày người có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  1. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại chị Nguyễn Thị Thúy L 01 xe máy Angel, biển kiểm soát 33M5-4058, số máy 337462, số khung 337462 đã qua sử dụng.

    Tịch thu tiêu hủy 01 mũ bảo hiểm dạng lưỡi trai màu đen, 01 quần bò màu xanh và 01 áo sơ mi màu xanh.

    (Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/12/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ)

  2. Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Phùng Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp, bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hà Nội;
  • - VKSND huyện Đ;
  • - CQTHAHS huyện Đ;
  • - CCTHADS huyện Đ;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Đ;
  • - Bị cáo; bị hại, NLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hà

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phùng Văn T trộm cắp TS
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger