Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 20/11/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Quỳnh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Nam

Ông Nguyễn Văn Giới

Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Duyên - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Minh Công - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 119/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Đình N; sinh ngày 07/8/1988, tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: khu phố V, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Chí B và bà Nguyễn Thị D; vợ: Nguyễn Thị T (đã ly hôn); con: có 01 con sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân: ngày 26/3/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 30/8/2010 chấp hành xong bản án; ngày 04/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 18/3/2019, chấp hành xong bản án. Bị cáo bị bắt ngày 21/8/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Anh Nguyễn Bá M; sinh năm 1988; nơi cư trú: khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
  • - Chị Bạch Thị Hoa S, sinh năm 1993; nơi cư trú: khu phố A, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
  • - Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1990; nơi cư trú: khu phố V, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa.
  • - Ông Nguyễn Chí B, sinh năm 1950; nơi cư trú: khu phố V, phường T, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, có mặt
  • * Người làm chứng: anh Trần Duy T1, anh Trần Thế H1, anh Kiều Văn Q, bà Phạm Thị H2, ông Nguyễn Bá S1, chị Lê Thị B1, anh Nguyễn Văn Đ; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình N và anh Nguyễn Bá M là bạn học, quen biết nhau từ nhỏ. Do cần tiền chi tiêu cá nhân, nên trong khoảng thời gian từ tháng 01/2022 đến tháng 11/2022, anh M đã nhiều lần vay tiền của N, việc vay tiền chỉ thỏa thuận miệng, đồng thời khi cho vay N đưa tiền mặt, nên không nhớ cụ thể số tiền vay của từng lần và mức lãi suất.

Đến cuối tháng 11/2022, N gọi điện thoại và thống nhất chốt nợ với anh M, cụ thể: anh M còn nợ Nhu 60.000.000 đồng tiền gốc và hàng tháng anh M phải trả cho N 8.000.000 đồng tiền lãi (tương đương mức lãi suất 160%/năm), thời gian trả lãi vào những ngày đầu của tháng kế tiếp và không thỏa thuận về thời hạn phải trả tiền gốc.

Từ tháng 12/2022 đến ngày 25/5/2024 (18 tháng) anh M đã trả cho N tổng số 114.350.000 đồng tiền lãi, trong đó anh M chuyển 10 lần, với tổng số tiền là 49.900.000 đồng từ tài khoản số 1030725339 của anh M mở tại Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 (V) đến các số tài khoản của N, gồm số 1020156788888 mở tại Ngân hàng H3 (M1) và số 6710783775 mở tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ2 (B2); đưa tiền mặt cho N 09 lần với tổng số tiền là 37.500.000 đồng. Đưa tiền mặt nhờ dịch vụ chuyển tiền chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của N 03 lần, với tổng số tiền là 20.950.000 đồng; nhờ chị Bạch Thị Hoa S (vợ anh M) chuyển 01 lần với số tiền là 6.000.000 đồng.

Khoảng đầu tháng 5/2024, do có việc vào Thành phố Hồ Chí Minh, N nhờ cháu họ là anh Trần Duy T1, sinh năm 2001, trú tại thôn V, xã T, thị xã Đ (nay là khu phố V, phường T, thành phố Đ) đến nhà anh M để đòi nợ. Trên đường đến nhà anh M để đòi tiền thì anh T1 gặp anh M đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 14Z1-522.77, nên cả hai dừng xe nói chuyện, tại đây anh T1 gọi điện cho N để N nói chuyện với anh M. Do chưa có tiền trả lãi nên anh M thống nhất với N sẽ giao chiếc xe mô tô đang đi để làm tin, khi nào có tiền trả lãi sẽ lấy xe về. Sau đó, anh M cùng anh T1 đem xe đi cầm cố xe để lấy tiền trả nợ cho N nhưng không cầm cố được, nên anh M tự nguyện giao xe cho anh T1 giữ. Ngày 13/5/2024, anh M đưa cho anh T1 4.000.000 đồng và chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng S2 mở tại Ngân hàng TMCP H3 (M1) của anh T1 2.000.000 đồng, sau đó anh M lấy xe về. Ngày 01/6/2024, anh M tiếp tục nhờ chị S chuyển khoản cho anh T1 số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, anh T1 đã chuyển khoản toàn bộ số tiền 7.500.000 đồng vào tài khoản Ngân hàng của N.

Ngày 20/8/2024, N đến nhà anh M để yêu cầu anh M trả 24.000.000 đồng (là tiền lãi của các tháng 6, 7, 8 năm 2024), do không gặp anh M nên N đi về. Cùng ngày, anh M đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ (nay là thành phố Đ) trình báo vụ việc và đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Như vậy, tổng số tiền lãi anh M đã trả cho N là 121.850.000 đồng (trong đó tiền lãi suất vượt quá 20%/năm là 103.850.000 đồng); tiền lãi đến hạn nhưng anh M chưa trả là 24.000.000 đồng (trong đó lãi suất vượt quá 20%/năm là 21.000.000 đồng). Hiện anh M chưa trả tiền gốc vay của N.

Ngày 21/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ (nay là thành phố Đ) đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối Nguyễn Đình N và tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh, gắn 02 sim số 0799.881.133 và 0762.813.333; 01 (một) chiếc ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, màu trắng, biển kiểm soát 14A-732.45.

Quá trình điều tra, Nguyễn Đình N đã khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên. Ngoài ra, tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Đình N khai: việc anh M giao xe là do anh M chủ động đề cập mục đích để làm tin do anh M chưa có tiền trả lãi, bị cáo không đe dọa, ép buộc anh M phải giao xe. Bị cáo không nói cho anh T1 biết việc bị cáo cho anh M vay tiền với lãi suất cao, không trả công hay hứa hẹn lợi ích gì cho anh T1. Bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 15.000.000 đồng thu lợi bất chính để đảm bảo thi hành án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Bá M có lời khai: do có mối quan hệ quen biết với N nên anh đã nhiều lần vay tiền của N nhưng không nhớ số tiền vay cụ thể của từng lần và lãi suất. Cuối tháng 11/2022, anh và bị cáo N chốt nợ số tiền nợ gốc 60.000.000đ (sáu mươi triệu đồng) với lãi suất 160%/năm. Anh đã trả cho N số tiền lãi là 121.850.000đ (một trăm hai mươi mốt triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng). Số tiền lãi đến hạn anh chưa trả cho N là 24.000.000đ (hai mươi bốn triệu đồng). Mục đích anh vay tiền N để chi tiêu cá nhân, không sử dụng vào việc vi phạm pháp luật. Việc anh giao xe cho anh T1 là hoàn toàn tự nguyện, khi nói chuyện điện thoại với N do lúc đó chưa có tiền trả lãi cho N nên anh chủ động nói sẽ tạm đưa xe để làm tin, không ai ép buộc hay đe dọa anh phải giao xe. Tại phiên tòa, anh đề nghị bị cáo phải trả cho anh toàn bộ số tiền 103.850.000 đồng là tiền lãi vượt quá 20%/năm mà anh đã trả cho bị cáo. Anh đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Bạch Thị Hoa S có lời khai: chị là vợ của anh Nguyễn Bá M. Chị biết việc anh M có vay tiền bị cáo N khoảng 60.000.000 đồng, hàng tháng anh M phải trả cho bị cáo số tiền lãi từ 8.000.000 đồng đến 9.000.000 đồng. Anh M vay tiền sử dụng vào việc cá nhân, chị và gia đình không được sử dụng số tiền trên. Số tiền lãi hàng tháng anh M trả cho N là do M dùng tiền cá nhân của M, chị không quan tâm. Chị đã được anh M nhờ chuyển khoản để trả tiền lãi cho bị cáo N hai lần, số tiền này chị trả cho M bằng tiền cá nhân của chị và anh M cũng trả lại cho chị. Tối ngày 20/8/2024, N đến nhà chị gặp chị nói chuyện đòi số tiền gốc anh M nợ là 60.000.000 đồng và số tiền lãi của tháng 6,7,8/2024 là 24.000.000 đồng. Nhu không có lời nói, hành động đe dọa, đánh đập chị và người nhà chị để đòi tiền. Do không gặp anh M nên N ra về. Chị không liên quan đến việc vay tiền của anh M và bị cáo N.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn H vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra cụ thể như sau: anh là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai GRAND i10, biển kiểm soát 14A-732.45. Anh H có cho em họ là Nguyễn Đình N mượn xe để đi lại. Anh không biết việc N sử dụng chiếc xe để làm phương tiện đi đến nhà Nguyễn Bá M đòi tiền. Ngày 26/9/2024, anh đã được Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ trả lại chiếc xe trên.

Những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại Cơ quan điều tra cụ thể như sau:

  • - Anh Trần Duy T1 khai: khoảng đầu tháng 5/2024, Nguyễn Đình N có nhờ anh đến nhà anh M để đòi tiền nợ nhưng N không nói rõ đòi bao nhiêu tiền, anh cũng không biết việc N cho anh M vay tiền với lãi suất cao. Khi gặp anh M, anh liên hệ điện thoại với N để N và anh M nói chuyện qua điện thoại. Sau đó, anh Mạnh Đ1 mang xe đi cầm cố nhưng không được nên tự nguyện giao xe mô tô cho anh để làm tin. Anh không đe dọa, đánh đập ép buộc anh M giao xe. Khoảng 04 ngày sau, anh M sang nhà anh đưa số tiền 6.000.000 đồng và lấy xe về. Sau đó, anh M còn đưa thêm số tiền 1.500.000 đồng để trả cho N, anh đã chuyển toàn bộ số tiền anh M trả cho N, anh không được N trả công hay lợi ích vật chất gì.
  • - Anh Trần Thế H1 khai: anh là bạn học của T1, khoảng đầu tháng 5/2024, anh có đi cùng với T1 gặp anh M tại đường liên thôn gần chùa B3. Tại đây, anh H1 thấy anh M có đưa xe máy cho T1 nhờ T1 chở sang thôn Đ, xã T và T1 nhờ H1 đi xe máy của T1 về nhà.
  • - Anh Kiều Văn Q khai: khoảng đầu tháng 5/2024, có anh M và anh T1 đến quán sửa xe sửa mô tô của anh tại Đ, T để cầm cố xe nhưng anh không đồng ý. Anh không biết anh M cầm cố xe để làm gì.
  • - Chị Lê Thị Bích K: chị là chủ tài khoản ngân hàng M2 số 1860182868888. Ngày 06/11/2023, do có quan hệ quen biết với N nên N đã nhờ tài khoản của chị để nhận tiền với số tiền 6.000.000 đồng. Ngoài lần đó ra, N còn nhiều lần nhờ chị nhận tiền chuyển khoản để chị đưa tiền mặt cho N. Chị không biết nguồn gốc những khoản tiền này và không biết việc N cho vay tiền lấy lãi.
  • - Anh Nguyễn Văn Đ khai: anh chỉ biết có khách hàng nhờ chuyển tiền đến tài khoản của Nguyễn Đình N. Anh không biết họ chuyển tiền vì mục đích gì, liên quan đến những ai.

Tại Cáo trạng số: 2380/CT-VKSĐT ngày 04 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo Nguyễn Đình N về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo theo bản Cáo trạng. Sau khi xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:

  • * Về hình phạt chính: áp dụng khoản 2 Điều 201; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị xử phạt bị cáo từ 07 - 10 tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt (ngày 21/8/2024).
  • * Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 3 Điều 201; khoản 2, 3 Điều 35 Bộ luật Hình sự, đề nghị phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đình N từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng để sung Ngân sách Nhà nước.
  • * Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • - Tịch thu của bị cáo Nguyễn Đình N số tiền 18.000.000 đồng là tiền lãi trong quy định, chưa vượt quá 20%/năm mà bị cáo đã thu được của anh Mạnh sung ngân sách nhà nước. Buộc bị cáo Nguyễn Đình N phải trả lại số tiền là 103.850.000 đồng (là tiền lãi vượt quá 20%/năm) cho anh Nguyễn Bá M.
    • - Buộc anh Nguyễn Bá M nộp lại số tiền 60.000.000 đồng là tiền gốc chưa trả cho Nguyễn Đình N để tịch thu sung ngân sách nhà nước.
    • - Tạm giữ số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) ông Nguyễn Chí B nộp thay cho bị cáo theo biên lai số 0002748 ngày 08/11/2024 tại Chi cục thi hành án thành phố Đông Triều để đảm bảo thi hành án.
    • - Trả lại bị cáo Nguyễn Đình N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh kèm 02 sim số 0799.881.133 và 0762.813.333.
    • - Lưu kèm hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD hỏi cung bị can và ghi lời khai của anh Nguyễn Bá M.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về việc định tội đối với bị cáo: lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, với vật chứng thu giữ của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: từ tháng 11/2022 đến ngày 21/8/2024, tại xã T, thị xã Đ (nay là phường T, thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Đình N đã có hành vi cho anh Nguyễn Bá M vay 60.000.000 đồng, với lãi suất 160%/năm, nhằm thu lợi bất chính (tiền lãi vượt quá 20%/năm) số tiền 124.850.000 đồng (trong đó tiền thu lợi bất chính đã thu được là 103.850.000 đồng; số tiền thu lợi bất chính chưa thu được là 21.000.000 đồng).

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố và kết luận về hành vi phạm tội đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính; ảnh hưởng đến các giao dịch dân sự, đẩy gia đình người vay tiền vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong dư luận. Bản thân bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được hành vi cho vay lãi nặng là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân: bị cáo là người có nhân thân xấu, ngày 26/3/2007, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xử phạt 04 năm tù về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ”, theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 30/8/2010 chấp hành xong bản án; ngày 04/6/2013, bị Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang xử phạt 08 năm tù về tội “Tàng trữ, mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự năm 1999, ngày 18/3/2019, chấp hành xong bản án.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải, bị cáo đã tác động gia đình nộp lại một phần tiền thu lợi bất chính để khắc phục một phần hậu quả. Ngoài ra, bị cáo có bố là ông Nguyễn Chí B là người có công với cách mạng được hưởng trợ cấp hàng tháng, bị cáo đã ly hôn vợ, đang trực tiếp nuôi con sinh năm 2013, từ khi bị cáo bị bắt thì con bị cáo ở cùng bố mẹ bị cáo, bố mẹ bị cáo thường xuyên ốm đau, bị cáo là lao động chính trong gia đình được chính quyền địa phương xác nhận, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội cũng như những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích, Hội đồng xét xử xét thấy mặc dù bị cáo có nhân thân xấu nhưng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã khắc phục một phần số tiền thu lời bất chính. Số tiền thu lợi bất chính thực tế bị cáo đã thu được chỉ ở mức khởi điểm của khung hình phạt tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần có mức hình phạt phù hợp đủ để tác dụng giáo dục bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật và phòng ngừa chung tội phạm.

[5] Về hình phạt bổ sung: xét cần áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức thức phạt tiền là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

  • - Về số tiền gốc 60.000.000 đồng bị cáo đã sử dụng để cho vay, hiện nay anh M vẫn nợ bị cáo là công cụ phạm tội; số tiền lãi 18.000.000 đồng là tiền lãi trong quy định, chưa vượt quá 20%/năm mà bị cáo đã thu được của anh M, mặc dù không tính để truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng là thu lợi từ việc phạm tội, cần truy thu để sung ngân sách Nhà nước.
  • - Về số tiền 103.850.000 đồng, lãi suất vượt quá 20%/năm là tiền thu lợi bất chính của người vay, cần buộc bị cáo phải trả cho anh Nguyễn Bá M.
  • - Đối với số tiền 15.000.000 (mười lăm triệu đồng) tiền thu lợi bất chính ông Nguyễn Chí B nộp thay cho bị cáo theo biên lai số 0002748 ngày 08/11/2024 tại Chi cục thi hành án thành phố Đông Triều cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax kèm sim đã thu giữ của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần trả lại cho bị cáo.
  • - Lưu kèm hồ sơ vụ án 02 đĩa DVD hỏi cung bị can và ghi lời khai của anh Nguyễn Bá M.

[7] Về các vấn đề khác:

Trong vụ án này, anh Trần Duy T1 có hành vi giúp bị cáo N đòi nợ nhưng anh T1 không biết việc N cho anh M vay tiền với lãi suất cao và không được hưởng lợi từ việc thu tiền lãi, nên anh T1 không đồng phạm với N về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Đối với hành vi giữ xe mô tô của anh Trần Duy T1. Quá trình điều tra, đã làm rõ là do anh M tự nguyện giao xe để làm tin, N và anh T1 không dùng vũ lực, đe dọa hoặc có hành vi khác ép buộc anh M giao xe, sau khi trả lãi xong anh M đã lấy xe về. Do vậy, hành vi của N và anh T1 không cấu thành tội phạm khác nên không đề cập xử lý.

Chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai i10, biển kiểm soát 14A-732.45, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc sở hữu hợp pháp của anh Nguyễn Văn H, anh H cho N mượn để đi lại, không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 26/9/2024, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh H.

[8] Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ: khoản 2, 3 Điều 201; khoản 2, 3 Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình N 07 (bảy) tháng tù về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, thời hạn tù tính từ ngày 21/8/2024.

Phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đình N 10.000.000đ (mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.

2. Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47; điểm a khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu số tiền 18.000.000 đồng của bị cáo Nguyễn Đình N để sung ngân sách nhà nước.
  • - Buộc bị cáo Nguyễn Đình N phải trả cho anh Nguyễn Bá M số tiền 103.850.000đ (một trăm linh ba triệu tám trăm năm mươi nghìn đồng).
  • - Buộc anh Nguyễn Bá M nộp lại 60.000.000₫ (sáu mươi triệu đồng) để sung ngân sách nhà nước.
  • - Tạm giữ số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) ông Nguyễn Chí B nộp thay cho bị cáo Nguyễn Đình N theo biên lai số 0002748 ngày 08/11/2024 tại Chi cục thi hành án thành phố Đông Triều để đảm bảo thi hành án.
  • Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án nộp đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán xong thì còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất do ngân hàng N2 công bố tại thời điểm thanh toán, tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự cho đến khi thi hành án xong.
  • Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  • - Trả lại bị cáo Nguyễn Đình N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax màu xanh kèm 02 sim số 0799.881.133 và 0762.813.333.
  • (Số vật chứng, tài sản trên có tình trạng và đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 20 ngày 05 tháng 11 năm 2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

Bị cáo Nguyễn Đình N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Cơ quan điều tra Công an Tp. Đông Triều;
  • - Cơ quan THAHS Công an Tp. Đông Triều;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Đông Triều;
  • - Viện kiểm sát ND tỉnh Quảng Ninh;
  • - NTG Công an Tp. Đông Triều (nơi tạm giam bị cáo);
  • - Chi cục THA DS Tp. Đông Triều;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ, VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trần Thị Như Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đình Nh
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger