TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 105/2024/HSST Ngày 14 tháng 11 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
* Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Đào Xuân Thịnh.
- 2. Bà Nguyễn Thị Thủy Khơi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng.
- Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Ông Lương Văn T – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2024/HSST ngày 30 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2024/HSST- QĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
- - Họ và tên: Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983; tên gọi khác: Không.
- - Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Đ, xã X, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12; Đảng, đoàn thể: Không
- - Họ và tên bố: Nguyễn Văn H, sinh năm 1952
- - Họ và tên mẹ: Trần Thị M, sinh năm 1953.
- - Gia đình có 4 anh em, bị cáo là con thứ 4.
- - Vợ: Trần Thị L, sinh năm 1984 (đã ly hôn);
- - Con: Bị cáo có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2010.
- - Tiền án: Bản án số 194/2020/HSST ngày 29/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự).
- - Tiền sự: Không
- - Nhân thân:
- + Năm 2011, bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục, lao động và xã hội tỉnh B thời hạn 12 tháng.
- + Năm 2013, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã X, huyện Y thời hạn 15 tháng.
- + Bản án số 37/2015/HSST ngày 24/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 14 ngày 03/9/2019 của Công an huyện Y đối với Nguyễn Văn T1 về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024 đến nay hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại :
- - Hợp tác xã Đ.
- - Địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Do chị Tạ Thị M1, sinh năm 1987, cư trú: tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y - Chủ tịch Hội đồng quản trị, đại diện (Vắng mặt).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Chu Đình H1, sinh năm 1989 (Vắng mặt)
- Trú tại: thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- - Anh Thân Văn H2, sinh năm 1981 (Vắng mặt)
- Trú thôn V, xã S, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
- - Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969 (Có mặt)
- Trú tại: tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trưa ngày 13/7/2024, Nguyễn Văn T1, sinh năm 1983 ở thôn Đ, xã X, huyện Y đi đến nhà Chu Đình H1, sinh năm 1989 ở thôn C, xã H, huyện Y rủ H1 đi đến huyện L, tỉnh Bắc Giang chơi, Hoà đồng ý rồi điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98G1-096.38 của H1 chở T1 đi đến huyện L. Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, H1 chở Tranh từ huyện L về đến khu vực khu xử lý rác thải của Hợp tác xã Đ tại tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y do chị Tạ Thị M1, sinh năm 1987 ở tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y là Chủ tịch Hội đồng quản trị và người đại diện theo pháp luật. Quan sát thấy cổng khu này khoá, bên trong không có ai trông coi nên T1 và H1 nảy sinh ý định vào trộm cắp tài sản đem đi bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. T1 và H1 trèo tường vào bên trong thấy có 01 nhà cấp 4 lợp tôn có 03 phòng, mỗi phòng có 1 cánh cửa bằng kim loại, trong đó phòng ngoài cùng bên tay trái có 01 cánh cửa không khóa. H1 quan sát ở hiên nhà có 01 chiếc búa cũ bằng kim loại có cán bằng gỗ nên lấy chiếc búa này đi đến vị trí cánh cửa không khoá đập vào khuy cố định cửa sắt với khung cửa một lúc thì bật cánh cửa ra. H1 bê cánh cửa ra phía ngoài cổng rồi cùng T1 đẩy cánh cửa qua khe hở phía dưới cánh cổng để đưa ra ngoài. Sau đó, H1 lấy chiếc búa rồi trèo ra ngoài cất chiếc búa vào trong cốp xe mô tô và cùng T1 bê cánh cửa vừa trộm được để lên xe mô tô, H1 điều khiển xe, T1 ngồi sau giữ cánh cửa rồi cùng nhau đi đến cửa hàng mua bán sắt vụn ở thôn C, xã H, huyện Y của anh Thân Văn H2, sinh năm 1981 ở thôn V, xã S, thành phố B. H1 đem cánh cửa đi vào bán cho anh H2 với giá 8.000 đ/1 kg, khi cân lên được 17kg nên anh H2 trả cho H1 135.000 đồng. Số tiền này H1 và T1 cùng nhau sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 15/7/2024, do không có tiền chi tiêu nên H1 và T1 nảy sinh ý định đi đến khu xử lý rác thải Hợp tác xã Đ để trộm cắp 02 cánh cửa sắt còn lại. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, H1 mang theo 01 chiếc búa lấy được hôm trước rồi điều khiển xe mô tô BKS 98G1-096.38 chở Tranh đến Hợp tác xã Đ. Khi đến nơi, H1 cầm theo búa trèo tường vào bên trong dùng búa lần lượt đập vào khuy cố định của 02 cánh cửa ở 02 phòng làm cánh cửa bật ra, H1 quan sát thấy bên trong các phòng này có tổng số 09 vỏ bình đựng nước lọc loại 20 lít đã qua sử dụng. H1 lần lượt bê 02 cánh cửa ra cổng rồi cùng T1 đưa 02 cánh cửa qua khe hở của cánh cổng ra ngoài, H1 tiếp tục lấy 09 vỏ bình nước ném lần lượt qua tường bao ra ngoài để T1 thu lại rồi trèo tường ra ngoài dùng dây buộc 09 vỏ bình nước lại. H1 cùng T1 bê 01 cánh cửa và cầm 09 vỏ bình nước cất giấu vào bụi cây ở rìa đường gần cổng khu xử lý rác, 01 cánh cửa còn lại H1 và T1 để lên xe mô tô BKS 98G1-096.38 rồi cùng nhau đi đến cửa hàng mua bán sắt vụn của anh Thân Văn H2 để bán. Khi đến nơi T1 xuống xe, H1 điều khiển xe mô tô một mình chở theo cánh cửa vào trong bán cho anh H2 với giá 8.000đ/1 kg, khi cân lên được 17kg nên anh H2 trả cho H1 135.000 đồng. Sau đó, H1 điều khiển xe mô tô cùng Tranh quay lại khu xử lý rác lấy 09 vỏ bình nước rồi cùng nhau đem đến cửa hàng tạp hóa của bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969 ở tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y đặt vấn đề bán cho bà T2 với giá 20.000đ/1 bình nhưng bà T2 không mua nên H1 bảo bà T2 đưa cho H1 180.000 đồng, H1 để lại 09 bình nước làm tin và hẹn ngày hôm sau sẽ đến lấy lại thì bà T2 đồng ý và đưa cho H1 180.000 đồng. Khoảng 23 giờ cùng ngày, H1 điều khiển xe mô tô 98G1-096.38 cùng Tranh quay lại cổng khu xử lý rác chở 01 cánh cửa sắt còn lại đến bán cho anh Thân Văn H2 với giá 8000đ/ 1kg, khi cân được 20 kg nên anh H2 trả cho H1 160.000 đồng. Toàn bộ số tiền có được H1 và T1 cùng nhau sử dụng chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 15/8/2024, chị Tạ Thị M1 phát hiện bị mất trộm tài sản đã làm đơn trình báo Công an thị trấn T, huyện Y (BL 85-86).
Ngày 17/8/2024, biết hành vi của mình bị phát hiện, H1 đã đến Công an thị trấn T, huyện Y khai nhận hành vi trộm cắp tài sản cùng Nguyễn Văn T1 và giao nộp 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98G1-096.38, 01 chiếc búa bằng kim loại. Công an thị trấn T, huyện Y đã thu giữ của anh Thân Văn H2 03 cánh cửa bằng kim loại mà H1, T1 đem đến bán và tiến hành cân xác định cánh cửa số 01 có trọng lượng 17,5 kg, cánh cửa số 02 trọng lượng 17,5 kg, cánh cửa số 03 trọng lượng 20 kg, tổng trọng lượng 03 cánh cửa là 55kg; Thu giữ của bà Nguyễn Thị T2 09 vỏ bình nước loại bình 20 lít (BL: 43, 149-150;170, 176).
Ngày 22/8/2024, Nguyễn Văn T1 đến Công an thị trấn T, huyện Y đầu thú khai nhận do bị nghiện ma tuý và có tiền án về tội trộm cắp tài sản nên đã cùng H1 trộm cắp tài sản để lấy tiền chi tiêu cá nhân. Cùng ngày, Công an thị trấn T đã bàn giao đối tượng T1 và toàn bộ tài liệu, hồ sơ, vật chứng đến Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền (BL 97-98).
Tại Kết luận định giá tài sản số 57 ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 03 cánh cửa bằng kim loại đã qua sử dụng có tổng trọng lượng 55 kg trị giá 7830 đồng/1 kg, tổng trị giá là 430.650 đồng; 09 vỏ bình nhựa đựng nước đã qua sử dụng trị giá 180.000 đồng; 01 búa bằng kim loại cán bằng gỗ đã qua sử dụng trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 640.650 đồng (BL 58).
Đối với Chu Đình H1 có hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên giá trị tài sản chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân H1 không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên cơ quan điều tra không xử lý được. Ngày 16/10/2024, Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chu Đình H1 theo quy định (BL 190).
Đối với anh Thân Văn H2 và bà Nguyễn Thị T2 có hành vi nhận mua tài sản của Chu Đình H1 và Nguyễn Văn T1, nhưng anh H2, bà T2 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại chị Tạ Thị M1 03 cánh cửa bằng kim loại, 09 vỏ bình nước, 01 búa bằng kim loại; Chị M1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Anh Thân Văn H2 và bà Nguyễn Thị T3 không yêu cầu Chu Đình H1 và Nguyễn Văn T1 phải trả lại số tiền đã bỏ ra mua tài sản. 01 xe mô tô biển kiểm soát 98G1-096.38 được chuyển chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để xử lý theo quy định;
Cáo trạng số: 109/CT-VKSYD, ngày 26/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố Nguyễn Văn Tranh về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- * Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/8/2024.
- * Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
- * Áp dụng khoản 3 Điều 47 BLHS:
Tịch thu của anh Chu Đình H1 01 xe mô tô WAVE biển kiểm soát 98G1-096.38 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy của xe mô tô biển kiểm soát 98G1-096.38 để sung quy Nhà nước.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Bị cáo Nguyễn Văn T1 nói lời sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối cải. Đề nghị xử phạt bị cáo mức án nhẹ nhất để trở về với gia đình và con.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 13/7/2024, tại khu xử lý rác thải của Hợp tác xã Đ ở tổ dân phố K, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Nguyễn Văn T1 là người có tiền án về tội trộm cắp tài sản đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc búa bằng kim loại trị giá 30.000 đồng và 01 cánh cửa bằng kim loại trọng lượng 17,5 kg có trị giá là 137.025 đồng rồi đem đến cửa hàng mua bán sắt vụn ở thôn C, xã H, huyện Y của anh Thân Văn H2 bán cho anh H2 được 135.000 đồng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút ngày 15/7/2024, Nguyễn Văn T1 đến khu xử lý rác thải của Hợp tác xã Đ trộm cắp 02 cánh cửa bằng kim loại có tổng trọng lượng 37,5 kg trị giá 293.625 đồng và 09 vỏ bình nước trị giá 180.000 đồng rồi đem 02 cánh cửa đến cửa hàng mua bán sắt vụn của anh H2 bán cho anh H2 được 295.000 đồng, đem 09 vỏ bình nước đến thế chấp cho bà Nguyễn Thị T2 được 180.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Văn T1 trộm cắp của Hợp tác xã Đ là 640.650 đồng, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu hồi tài sản trả lại cho người bị hại. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn T1 phù hợp với: Đơn trình báo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Y, vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 57 ngày 27/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Y kết luận: 03 cánh cửa bằng kim loại đã qua sử dụng có tổng trọng lượng 55 kg trị giá 7830 đồng/1 kg, tổng trị giá là 430.650 đồng; 09 vỏ bình nhựa đựng nước đã qua sử dụng trị giá 180.000 đồng; 01 búa bằng kim loại cán bằng gỗ đã qua sử dụng trị giá 30.000 đồng. Tổng trị giá tài sản là 640.650 đồng. Tài sản chiếm đoạt dưới 2.000.000đồng nhưng bị cáo đã bị kết án về tội này (Tiền án: Bản án số 194/2020/HSST ngày 29/11/2020 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành xong phần trách nhiệm dân sự) theo hướng dẫn tại mục 7 phần I Giải đáp số: 64/TANDTC – PC ngày 03/4/2019 của TANDTC), bị cáo chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Nguyễn Văn T1 đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 01 Điều 173 của BLHS. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ. Hành vi phạm tội của bị cáo ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy hành vi của bị cáo cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự để giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Cần xử phạt tù với thời hạn nhất định đối với bị cáo Nguyễn Văn T1 để bị cáo biết tuân thủ pháp luật và có điều kiện tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
[4] Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy:
- - Nhân thân:
- + Năm 2011, bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm giáo dục, lao động và xã hội tỉnh B thời hạn 12 tháng.
- + Năm 2013, bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã X, huyện Y thời hạn 15 tháng.
- + Bản án số 37/2015/HSST ngày 24/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- + Quyết định xử phạt vi phạm hành chính 14 ngày 03/9/2019 của Công an huyện Y đối với Nguyễn Văn T1 về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Chứng tỏ bị cáo có nhân thân xấu.
Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải. Bị cáo đầu thú. Nên áp dụng tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51của BLHS.
Bị cáo nghiện ma túy, không có thu nhập hoặc tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo khoản 5 Điều 173 BLHS đối với bị cáo.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 16/10/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trả lại Hợp tác xã Đồng Phát do chị Tạ Thị M1 đại diện 03 cánh cửa bằng kim loại, 09 vỏ bình nước, 01 búa bằng kim loại; Chị M1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự. Anh Thân Văn H2 và bà Nguyễn Thị T2 không yêu cầu Chu Đình H1 và Nguyễn Văn T1 phải trả lại số tiền đã bỏ ra mua tài sản. Nên không đặt ra xem xét.
[6] Đối với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đưa ra về xử lý vật chứng là phù hợp, có cơ sở chấp nhận. Áp dụng điểm a khoản 1, khoản 3 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
Tịch thu của anh Chu Đình H1 01 xe mô tô WAVE biển kiểm soát 98G1-096.38 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy của xe mô tô biển kiểm soát 98G1-096.38 mà anh Chu Đình H1 và bị cáo Nguyễn Văn T1 dùng vào trộm cắp tài sản để sung quy Nhà nước.
[7] Đối với Chu Đình H1 có hành vi trộm cắp tài sản, tuy nhiên giá trị tài sản chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự, bản thân H1 không có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên cơ quan điều tra không xử lý được. Ngày 16/10/2024, Công an huyện Y đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Chu Đình H1 theo quy định là đúng.
Đối với anh Thân Văn H2 và bà Nguyễn Thị T2 có hành vi nhận mua tài sản của Chu Đình H1 và Nguyễn Văn T1, nhưng anh H2, bà T2 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật .
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T1 09 tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 22/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: không đặt ra xem xét giải quyết.
- Áp dụng khoản 3 Điều 47 BLHS:
Tịch thu của anh Chu Đình H1 01 xe mô tô WAVE biển kiểm soát 98G1-096.38 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy của xe mô tô biển kiểm soát 98G1-096.38 để sung quy Nhà nước.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn T1 phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo, người có quyền, nghĩa vụ liên quan (có mặt) có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan (vắng mặt ) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 105/2024/HSST ngày 14/11/2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 105/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T trộm cắp tài sản
