TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 105/2024/HSST
Ngày: 13/11/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;
- Ông Phạm Thành Đô.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hình sự thụ lý số 99/2024/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2024/QĐXXST – HS ngày 01 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Điểu T, sinh năm 1985, tại tỉnh Bình Phước.
Căn cước công dân số: [...]; cấp ngày 13/4/2024.
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Lái xe; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: S'tiêng; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đ K Băng và bà Điểu Thị L; bị cáo có vợ và 03 người con lớn nhất sinh năm 2005 và nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
- Bị hại: Phạm Quốc D (đã chết)
- Đại diện theo pháp luật của người bị hại:
- Hồ Thị H, sinh năm 1949, (vắng mặt).
Địa chỉ: ấp F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Lương Thị V, sinh năm 1992, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Người đại diện theo ủy quyền của bà Hồ Thị H: Bà Lương Thị V, sinh năm 1992, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Bị đơn dân sự: Lưu Trung H1, sinh năm 1985, (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Điểu T có Giấy phép lái xe hạng C; số 7000580424497, do Sở Giao thông vận tải thành phố H, cấp ngày 18/01/2024. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 05/7/2024, Điểu T1 điều khiển xe ô tô tải biển số: 63H-028.73 không có nồng độ cồn, không sử dụng chất ma túy hoặc chất kích thích khác, lưu thông trên đường liên thôn hướng từ thôn B, xã N đến xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến đoạn đường ngã ba thuộc thôn B, xã N, huyện B thì Điểu Tíl quan sát thấy xe ô tô tải biển số: 65K-3592 do anh Nguyễn Đức Q điều khiển đang dừng ngược chiều bên phải (theo hướng đi của Điểu T) nên Điểu T đã điều khiển xe tránh sang bên trái đường để tránh xe ô tô biển số: 65K-3592. Lúc này, anh Phạm Quốc D đi đến điều chỉnh gương chiếu hậu bên phải xe ô tô biển số: 65K-3592 để tránh va chạm thì bị Điểu T điều khiển xe 63H-028.73, do thiếu chú ý quan sát chèn ép thân xe vào người anh D gây tai nạn giao thông, làm anh D bị tử vong.
Tại Kết luận giám định tử thi số: 738/KL-KTHS ngày 10/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Anh Phạm Quốc D bị chấn thương ngực, bụng kín gãy đa xương sườn, giập phổi, vỡ gan, giập thận dẫn đến tử vong.
- Về vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra– Công an huyện B đã xử lý:
+ Trả 01 xe ô tô tải biển số 63H-028.73 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lưu Trung H1.
+ Trả 01 xe ô tô biển số 65K-3592 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Đức Q.
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 60.000.000 đồng, bị đơn dân sự ông Lưu Trung H1 đã bồi thường số tiền 120.000.000 đồng; đại diện gia đình bị hại không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 109/CT – VKS ngày 28/10/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Điểu T về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điểu T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về hình phạt đề nghị: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Điểu T từ 01 năm đến 01 năm, 03 tháng tù, cho hưởng án treo.
Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng
Bị cáo Điểu T1 thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B và Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Điểu Tíl có Giấy phép lái xe hạng c, số 7000580424497, do sở Giao thông vận tải thành phố H, cấp ngày 18/01/2024. Ngày 05/7/2024 Điểu T1 điều khiển xe ô tô tải biển số: 63H-028.73 không có nồng độ cồn, không sử dụng chất ma túy và không sử dụng chất kích thích khác, điều khiển xe ô tô tải biển số: 63H-028.73 lưu thông trên đường liên thôn hướng từ thôn B, xã N, huyện B đến xã Đ, huyện B Khi đến đoạn đường thuộc thôn B, xã N, huyện B điều khiển xe ô tô tải biển số: 63H-028.73 tránh, vượt trướng ngại vật không đúng quy định, thiếu không chú ý quan sát gây ra tai nạn giao thông làm ông D bị tử vong.
Như vậy, hành vi của bị cáo Điểu T đã vi phạm vào khoản 2 Điều 14 Luật Giao thông đường bộ
Điều 14 Luật Giao thông đường bộ quy định về nguyên tắc vượt xe
“2. Xe xin vượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đã tránh về bên phải.”
Với hậu quả ông Phạm Quốc D tử vong nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 260. Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ thuộc gây thiệt hại cho người khác một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a) Làm chết người;
5. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng do ý thức chấp hành giao thông kém, chủ quan, cẩu thả nên đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng, khiến ông Phạm Quốc D tử vong, gây đau thương, mất mát lớn cho gia đình bị hại.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo đã cùng bị đơn dân sự bồi thường khắc phục hậu quả theo yêu cầu của gia đình người bị hại. Đại diện gia đình bị hại đã làm đơn bãi nại xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo là con em đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật có phần hạn chế; trong quá trình lao động sản xuất bị cáo đã được Chủ tịch ủy ban nhân dân huyện T2. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Xét thấy, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nên đề nghị của Viện kiểm sát về việc áp dụng hình phạt tù có điều kiện đối với bị cáo là phù hợp với mục đích của hình phạt.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 đến 05 năm. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là lỗi vô ý. Nhằm tạo điều kiện cho bị cáo làm việc để khắc phục hậu quả, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung cấm lái xe ô tô đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng vụ án: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015.
+ Trả 01 xe ô tô tải biển số 63H-02873 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lưu Trung H1.
+ Trả 01 xe ô tô biển số 65K-3592 trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Đức Q.
Vật chứng vụ án đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 60.000.000 đồng, Bị đơn dân sự ông Lưu Trung H1 đã bồi thường số tiền 120.000.000 đồng đại diện theo pháp luật của bị hại đã làm đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Điểu T phạm Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Điểu T 01 năm (một năm) tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 năm (hai năm) kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Điểu T về cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
[2] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Điểu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương, nơi cư trú.
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 105/2024/HSST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 105/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Điểu T, Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, K1, Đ260
