Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 31/10/2024
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Kiều Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Thắm;
  • 2. Bà Nguyễn Kim Lý.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 760/2024/TLST-HNGĐ ngày 07/10/2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXXST–HNGĐ ngày 21 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn C, sinh năm 1988; địa chỉ thường trú: Thôn U, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ liên hệ: Số nhà B, ngách E, N, phường M, quận B, thành phố Hà Nội. Vắng mặt có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
  • Bị đơn: Bà Lê Thị V, sinh năm 1984; địa chỉ thường trú: Thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; địa chỉ tạm trú: Nhà T, đường N, tổ D, khu phố G, phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt có đơn xin giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Hoàng Văn C trình bày:

Ông Hoàng Văn C và bà Lê Thị V đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2017 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35 ngày 20/11/2017. Hôn nhân giữa hai người là tự nguyện. Cuộc sống hôn nhân của hai người đã không còn hạnh phúc, do vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Ông C xác định không còn tình cảm với bà V, mâu thuẫn của vợ chồng đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được. Ông C và bà V không còn sống chung nhà và đã ly thân nhiều năm nay. Nay ông C yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bà V.

Về con chung: Ông C và bà V có 01 người con chung tên: Hoàng Quân B, sinh ngày 02/12/2018. Ông C đồng ý để bà V được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu B mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Ông C không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn bà Lê Thị V trình bày: Bà V thống nhất lời trình bày của nguyên đơn ông C về thời gian kết hôn, con chung, nợ chung và tài sản chung cũng như mâu thuẫn vợ chồng. Quá trình chung sống đến khoảng năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn bà V nhận thấy tính tình vợ chồng không hợp, thường xuyên cãi vã, mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được. Hiện tại, không ai quan tâm chăm sóc nhau, không còn sống chung nhà và đã ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà V đồng ý ly hôn với ông C.

Về con chung: Bà V và ông C có 01 người con chung tên: Hoàng Quân B, sinh ngày 02/12/2018. Trường hợp ly hôn, bà V yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung và yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi cháu B mỗi tháng 5.000.000 đồng cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà V không có tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát tham gia phiên toà:

  • Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến khi mở phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký đã tiến hành đúng, đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định. Tính đến ngày Tòa án có quyết định đưa vụ án ra xét xử, vụ án còn trong thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ về quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
  • Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
  • Những yêu cầu, kiến nghị khắc phục vi phạm: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Các đương sự tranh chấp ly hôn và nuôi con, bị đơn có nơi cư trú phường C, thành phố B, tỉnh Bình Dương nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.2] Về việc vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn và bị đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1 khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[1.3] Về chứng cứ: Tòa án đã tổ chức phiên họp công khai giao nộp và tiếp cận chứng cứ ngày 21/10/2024, gửi kết quả cho các đương sự nhưng không ai có ý kiến thắc mắc, không yêu cầu Tòa án thu thập thêm chứng cứ nào khác, ngoài chứng cứ có trong hồ sơ. Do đó, Tòa án căn cứ vào lời trình bày của các đương sự, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập được làm căn cứ giải quyết vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn ông Hoàng Văn C và bị đơn bà Lê Thị V trên cơ sở tự nguyện đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa vào năm 2017 theo Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 35 ngày 20/11/2017. Như vậy, hôn nhân giữa nguyên đơn ông C và bị đơn bà V là hôn nhân hợp pháp.

Ông C trình bày, sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không hợp tính nhau dẫn đến thường xuyên cải vã. Gia đình hai bên nhiều lần tổ chức hòa giải nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, không thể hòa hợp, hôn nhân không còn hành phúc. Hiện tại, ông C và bà V không còn sống chung nhà và đã ly thân từ khoảng năm 2021 cho đến nay.

Xét thấy, để có căn cứ xác định lời trình bày của ông C về trình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng. Tòa án đã tiến hành xác minh tại nơi cư trú và sinh sống của ông C và bà V, về tình trạng mâu thuẫn hôn nhân vợ chồng và nguyên nhân mâu thuẫn thì địa phương không rõ, vì khi xảy ra mâu thuẫn cả hai không báo địa phương để tổ chức hòa giải. Tuy nhiên, tại Biên bản lấy lời khai của bà V ngày 07/10/2024, bà V cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng và xác định vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2021 cho đến nay. Tòa án đã tiến hành triệu tập ông C và bà V để tổ chức hòa giải đoàn tụ gia đình nhưng ông ông C không tham gia hòa giải đoàn tụ gia đình và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Do đó, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên thấy có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung tên: Hoàng Quân B, sinh ngày 02/12/2018. Khi ly hôn, ông C đồng ý để bà V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Hoàng Quân B.

Xét thấy, cháu Hoàng Quân B, sinh ngày 02/2/2018 đang còn nhỏ nên cần được sự trông nom, chăm sóc của người mẹ hơn. Mặt khác, từ trước đến nay cháu vẫn sống với bà V, cuộc sống cháu đang ổn định, để không làm thay đổi môi trường sống cần giao cháu B cho bà V tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng sau ly hôn, điều này cũng phù hợp với yêu cầu của bà V và ông C cũng đồng ý để bà V tiếp tục trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu B. Do đó, cần chấp nhận cho bà V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu B là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông C đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng Quân B, sinh ngày 02/12/2018 mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: Ông C và bà V không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Từ những phân tích như trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Xét ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương là phù hợp với quy định của pháp luật nên có căn cứ chấp nhận.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 36, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, 81, 82, 83 và 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn C đối với bị đơn bà Lê Thị V về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con”.
    • - Về hôn nhân: Ông Hoàng Văn C được ly hôn bà Lê Thị V.
    • Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 35 do Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa cấp ngày 20/11/2017 cho ông Hoàng Văn C và bà Lê Thị V không còn giá trị pháp lý.
    • - Về con chung: Giao 01 người con chung tên: Hoàng Quân B, sinh ngày 02/2/2018 cho bà Lê Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
    • Ông Hoàng Văn C có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai được cản trở ông Hoàng Văn C thực hiện các quyền, nghĩa vụ này. Khi cần thiết, vì lợi ích của con, một hoặc cả hai bên đều có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
    • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Ông Hoàng Văn C phải cấp dưỡng nuôi cháu Hoàng Quân B, sinh ngày 02/12/2018 mỗi tháng 5.000.000 đồng (năm triệu đồng). Thời gian bắt đầu cấp dưỡng kể từ ngày Bản án này có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu B đủ 18 tuổi.
    • Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lê Thị V cho đến khi thi hành án xong, ông Hoàng Văn C còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
    • - Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  2. Về án phí: Ông Hoàng Văn C nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu: BLTU/24 số 0000900 ngày 10/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương. Ông Hoàng Văn C còn phải nộp số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND thành phố Bến Cát;
  • - Chi cục THADS thành phố Bến Cát;
  • - UBND xã Xuân Hưng, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Kiều Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 31/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger