Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ SƠN TÂY - HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 105/2024/HSST

Ngày: 29/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Tú.

Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thi – Giáo viên nghỉ hưu;

Bà Đào Thị Minh Nguyệt – Cán bộ hưu trí.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Đức Thuận - Thư ký Toà án nhân dân Thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thuý Dịu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Khuất Tiến D, sinh ngày 14/10/2007 tại thị xã S, Hà Nội; Nơi Nơi cư trú: Số B T, phường V, thị xã S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Khuất Thu B (đã chết) và bà Nguyễn Thị T; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1985; Trú tại: Số B T, phường V, thị xã S, Hà Nội;có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Danh S – Trợ giúp viên pháp lý Nhà nước – Trung tâm TGPL Nhà nước Thành phố H; có mặt.

2. Nguyễn Đăng H, sinh năm 2005 tại thị xã S, Hà Nội; Nơi Nơi cư trú: Số E T, phường V, thị xã S, Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Đăng D1 (đã chết) và bà Trịnh Thị O; Vợ, con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2019 bị Công an thị xã S xử phạt Cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; Có mặt.

- Người có QLNVLQ: + Lê Trung H1, sinh năm 2006; Trú tại: Thôn K, xã K, S, Hà Nội; Vắng mặt.

+ Bà Trịnh Thị O, sinh năm 1985; Trú tại: Số E T, phường V, thị xã S, Hà Nội; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 19/6/2024, Khuất Tiến D rủ Nguyễn Đăng H mua ma tuý T1 về cùng bán kiếm lời. D nói với H: “Anh em mình lấy Tobaco về bán đi anh”. H trả lời: “Ừ, anh em mình mua lấy 1.000.000 đồng, anh góp 700.000 đồng em góp 300.000 đồng”, D đồng ý xong thì H đưa 700.000 đồng cho D để D đi mua ma tuý.

Sáng ngày 20/6/2024, D sử dụng tài khoản mạng xã hội Facebook “Khuất Tiến D”, thấy tài khoản có tên “Tobaco” đăng bài bán ma tuý T1, D nhắn tin M với tài khoản này hỏi mua 1.000.000 đồng ma tuý Tobaco. Người sử dụng tài khoản “Tobaco” đồng ý, nhắn số tài khoản và bảo D chuyển tiền vào tài khoản đó, xong người bán sẽ chuyển ma túy cho D . D chuyển khoản 1.000.000 (một triệu đồng) từ tài khoản ngân hàng M1 số 0365757483 đến tài khoản số 1015589216 ngân hàng V. D nói với người bán: chuyển ma tuý cho D về bãi nhận chuyển hàng nhà bà B1 ở gần bến xe S thông tin người nhận là D số điện thoại 0899.341.xxx.

Khoảng 16 giờ ngày 20/6/2024, người bán ma tuý là nam giới gọi điện qua ứng dụng Messenger cho D, nói là D hàng đã được gửi xe khách đến địa chỉ D đã nhắn. Sau đó D đã nhắn tin M đến tài khoản “H Cu” của Nguyễn Đăng H để bảo H đến bãi gửi hàng nhà B để lấy ma túy.

Khoảng hơn 17 giờ ngày 20/6/2024, Lê Trung H1, là bạn quen biết với D. H1 nhắn tin qua ứng dụng Zalo của D hỏi mua ma tuý cần sa Tobaco, D đã đặt mua được ma tuý cần sa Tobaco nên đồng ý và hẹn H1: “Tối nha...” và bảo H1 chuyển khoản cho D để thanh toán tiền mua ma tuý trước. H1 đồng ý chuyển 200.000 đồng từ tài khoản ngân hàng của H1 vào tài khoản ngân hàng của D để mua ma tuý.

Khoảng 18 giờ ngày 20/6/2024, H đi ra bãi gửi hàng B do chị Đinh Thị Thu H2 là chủ để nhận ma túy. H gặp chị H2 để lấy gói hàng của xe khách gửi cho người tên D, chị H2 kiểm tra thấy có một hộp cát tông có đề tên D và chị H2 không

biết bên trong có gì, thấy H đọc đúng tên và số điện thoại trên gói hàng nên đã đưa cho H. Nhận gói hàng xong H đi về đến nhà mở hộp thấy bên trong có một gói nilông màu xanh chứa ma tuý T1, H cất vào trong cốp xe máy. Sau đó H đi tập thể dục ở trong xóm thì gặp D và D nói với H: có khách đặt mua ma tuý Tobaco, tối D với H đi giao hàng.

Đến 20 giờ ngày 20/6/2024, sau khi ăn tối, D đi đến nhà H để rủ H mang ma tuý đi bán cho H1. H chở D đi tìm chỗ chia ma tuý, trên đường đi D nói với H: khách mua đã chuyển khoản 200.000 đồng mua ma tuý. Khi đi đến quán nước vỉa hè, lối đi vào đình C thuộc phường Q, TX S thấy vắng người Hùng mở cốp xe lấy gói nilông xanh chứa ma tuý Tobaco mở ra bên trong có chứa nhiều ma tuý T1 còn D lấy gói nilông trắng rỗng san một phần ít ma tuý Tobaco trong gói nilông xanh để đem bán. Chỗ còn lại H cất vào trong cốp xe máy và H nói với D mang gói ma tuý về nhà cất vì mang đi đường số lượng nhiều ma tuý dễ bị phát hiện. H chở D về nhà cất gói ma túy tại gầm cầu thang nhà H, còn lại 1 gói nilông nhỏ chứa ma tuý Tobaco, H để trong cốp xe mang đi bán.

Đến khoản 20 giờ ngày 20/6/2024, Lê Trung H1 một mình đi đến khu vực cổng khách sạn L và hẹn D lấy ma túy, D nói với H khách mua ma tuý đang đợi ở cổng khách sạn L, H điều khiển xe máy chở D đến cổng trường Trung học cơ sở S1 gần đến điểm hẹn giao dịch. H dừng xe, mở cốp lấy gói ma tuý T1 đưa cho D để giao cho khách. D nhận gói ma tuý xong thì H tiếp tục chở D đến khu vực cổng khách sạn L, gần đến nơi D thấy H1 đang đứng và bảo H dừng xe lại để D đưa gói ma tuý Tobaco cho H1. H1 vừa nhận ma tuý cầm trong tay trái thì bị đội CSĐTTP về Ma tuý phối hợp cùng Công an phường Q đang làm nhiệm vụ tại khu vực này kiểm tra hành chính phát hiện bắt quả tang lúc 21 giờ 30 ngày 20/6/2024 và thu giữ vật chứng gồm:

  • 01 gói nilông kích thước 9x5cm viền mép màu đỏ, bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng.
  • 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu vàng, đã cũ, bị nứt vỡ màn hình thu giữ của H1;
  • 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng bị vỡ mặt kính và lưng điện thoại thu giữ của D
  • Số tiền 200.000 đồng thu giữ của D là tiền H1 chuyển khoản để mua ma túy.
  • 01 điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ và 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen đã cũ, BKS: 29U1-436.58 của H.

Ngoài ra khám xét chỗ ở của Nguyễn Đăng H thu giữ : 01 gói nilông màu xanh kích thước 25x25cm bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng và 05 gói nilông trong suốt kích thước 5x9cm bên trong không có gì.

Quá trình kiển tra điện thoại D đã tự nguyện giao nộp số tiền 200.000 đồng bán ma tuý cho H1 mà có.

Tại bản kết luận giám định số: 4804/KLGÐ - PC09 ngày 26/8/2024 của Phòng K1, Công an thành phố H, kết luận:

  • Thảo mộc khô màu vàng bên trong có 01 gói nilông viền mép màu đỏ (Ký hiệu M1) có ma tuý loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 0,767gam.
  • Thảo mộc khô màu vàng bên trong 01 gói nilông màu xanh (Ký hiệu M2) có ma tuý loại MDMB-4en-PINACA, khối lượng 15,327gam.”.

Quá trình điều tra vụ án, Cơ quan CSĐT Công an T đã kiểm tra điện thoại di động của Khuất Tiến D để truy tìm người có tài khoản Facebook “Tobaco”, kết quả không còn dữ liệu do tin nhắn đã bị xoá, D đã tìm kiếm tài khoản nhưng không thấy được do D không kết bạn hoặc người dùng tài khoản đã chặn tìm kiếm đối với tài khoản của D.

Cơ quan CSĐT Công an T, đã tiến hành tra cứu người đăng ký tài khoản ngân hàng V số 1015589216 là chị Nguyễn Thị K (sinh năm: 1986, HKTT: Thôn Đ, xã N, huyện N, Nam Định). Tiến hành lấy lời khai, chị K trình bày : ngày 20/6/2024 có một người trong công ty nơi chị K làm việc nhờ chị K có 1.000.000 đồng tiền mặt thì đưa cho người này và có người chuyển 1.000.000 đồng vào tài khoản của chị K. Chị K đồng ý đưa tiền cho người nhờ chuyển và đã nhận 1.000.0000 đồng chuyển khoản của một người không quen biết vào tài khoản của mình. Đến nay chị K không nhớ người nào là người đã nhờ chuyển khoản để lấy tiền mặt. Do Công ty nơi chị K làm việc có số lượng người rất đông, khoảng 12.000 người. Do đó Cơ quan CSĐT Công an T không có căn cứ xử lý đối với chị K.

Đối với Lê Trung H1 đã có hành vi mua trái phép 0,767gam thảo mộc có chứa ma tuý loại MDMB-4en-PINACA mục đích để sử dụng, tuy nhiên khối lượng ma tuý không đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự H1 chưa có tiền án, tiền sự. Do đó Công an T, Hà Nội đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.000.000 đồng.

Đối với người bán ma tuý cho Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H do không có thông tin cụ thể, không xác định được nhân thân người này đến nay không có sở xác minh làm rõ nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chị Đinh Thị Thu H2 chủ bãi gửi hàng B làm dịch vụ nhận giao hàng. Khi nhận hàng chị H2 không nhớ xe khách và người nào gửi, khi giao cho H chị H2 không biết bên trong hộp là gì nên Cơ quan CSĐT Công an T không có căn cứ xử lý đối với chị H2.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo D và H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận giám định.

Tại bản cáo trạng số 102/CT – VKS ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H về “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 90, 91, 98 và 101 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Khuất Tiến D từ 15 đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H từ 24 đến 27 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024. Hình phạt bổ sung không áp dụng đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 gói nilông kích thước 9x5cm viền mép màu đỏ, bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng ; 01 gói nilông màu xanh kích thước 25x25cm bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng và 05 gói nilông trong suốt kích thước 5x9cm bên trong không có gì; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu vàng, đã cũ, bị nứt vỡ màn hình thu giữ của H1; Nộp NSNN Số tiền 200.000 đồng thu giữ của D là tiền H1 chuyển khoản để mua ma túy; Phát mại nộp NSNN 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng bị vỡ mặt kính và lưng điện thoại thu giữ của D và 01 điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen đã cũ, BKS: 29U1-436.58 không liên quan tội phạm nên trả lại cho bà Trịnh Thị O.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng không có ý kiến gì khác về quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Người bào chữa cho bị cáo Khuất Tiến D trình bày lời bào chữa và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án nhẹ nhất có thể cho bị cáo sớm trở về làm công dân tốt, có ích cho xã hội.

Lời nói sau cùng của các bị cáo: Kính mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo D và bị cáo H đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp biên bản hỏi cung bị can, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên HĐXX đủ cơ sở kết luận: Khoảng 21 giờ 30 phút ngày 20/6/2024 Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H có hành vi bán trái phép 01 gói ma túy có khối lượng 0,767gam thảo mộc có chứa ma tuý loại MDMB-4en-PINACA cho Lê Trung H1 và đang cất 15,327gam thảo mộc có chứa ma tuý loại MDMB-4en-PINACA ở nhà H nhằm mục đích mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị tổ công tác Công an phường Q, tuần tra tại khu vực khách sạn L thuộc phường Q, thị xã S, phát hiện bắt quả tang.

Hành vi của các bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành “Tội mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Do vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến chính sách quản lý của Nhà nước về chất ma túy mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Do đó, cần có một mức hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện. Cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời nhằm răn đe và phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo D có điều kiện kinh tế khó khăn do bố mất sớm, D có ông nội có công với cách mạng được tặng thưởng Huân chương và Giấy khen ; Bị cáo H là lao động chính trong gia đình có điều kiện kinh tees khó khăn do bố bị cáo mất sớm; đó là tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 của Bộ luật hình sự. Do vậy, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[5] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[6]. Về nhân thân: Bị cáo Khuất Tiến D chưa có tiền án; tiền sự. Bị cáo H năm 2019 đã bị xử phạt Cảnh cáo về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, nhưng đã được xóa.

[7]. Về mức hình phạt áp dụng đối với các bị cáo: HĐXX áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo D và bị cáo H; Đối với bị cáo Khuất Tiến D thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá ba phần tư của mức phạt tù mà điều luật quy định; để nhằm giáo dục, cải tạo, giúp đỡ bị cáo nhận ra lỗi lầm để tự sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, sống hòa nhập với cộng đồng, trở thành công dân có ích cho xã hội. Mức án HĐXX áp dụng với bị cáo thấp hơn so với mức án mà Viện kiểm sát đề nghị. Đối với bị cáo H HĐXX áp dụng hình phạt thấp nhất của khung hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về đoàn tụ gia đình và sống có ích cho xã hội.

[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo D và H đều không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

[9] Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 gói nilông kích thước 9x5cm viền mép màu đỏ, bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng ; 01 gói nilông màu xanh kích thước 25x25cm bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng và 05 gói nilông trong suốt kích thước 5x9cm bên trong không có gì; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu vàng, đã cũ, bị nứt vỡ màn hình thu giữ của H1; Nộp NSNN Số tiền 200.000 đồng thu giữ của D là tiền H1 chuyển khoản để mua ma túy; Phát mại nộp NSNN 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng bị vỡ mặt kính và lưng điện thoại thu giữ của D và 01 điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ; 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen đã cũ, BKS: 29U1-436.58 không liên quan tội phạm nên trả lại cho bà Trịnh Thị O.

[10] Về án phí: Bị cáo D và bị cáo H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; Điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, 90, 91, 98 và 101 của Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Khuất Tiến D 15 (Mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024.

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Đăng H 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 21/6/2024 đến ngày 27/6/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu huỷ : 01 gói nilông kích thước 9x5cm viền mép màu đỏ, bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng ; 01 gói nilông màu xanh kích thước 25x25cm bên trong chứa thảo mộc khô màu vàng và 05 gói nilông trong suốt kích thước 5x9cm bên trong không có gì; Nộp NSNN số tiền 200.000 đồng; Phát mại nộp NSNN 01 điện thoại di động Iphone màu vàng hồng bị vỡ mặt kính; 01 điện thoại di động Iphone màu đen đã cũ; 01 điện thoại di động OPPO vỏ màu vàng, đã cũ, bị nứt vỡ màn hình. Trả lại cho bà Trịnh Thị O 01 xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn đen đã cũ, BKS: 29U1-436.58.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 02/10/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây và Công an thị xã S; Giấy nộp tiền mặt ngày 02/10/2024 giữa Kho bạc nhà nước thị xã S và Công an thị xã S).

3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Khuất Tiến D và Nguyễn Đăng H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định./.

*Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân TP Hà Nội;
  • - VKSND TX Sơn Tây;
  • - Chi cục THADS TX Sơn Tây;
  • - Các Bị cáo; Người bào chữa.
  • - Lưu HS vụ án + VPTA.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Tú

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HSST ngày 29/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 105/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: T tàng trữ ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger