Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HSST

Ngày 27 tháng 9 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Đào
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Ông Đỗ Minh
    • Ông Vũ Hùng Tuấn

- Thư ký phiên toà: Ông Đinh Trung Sơn - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Hưng- Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Kim D, sinh ngày: 06/3/1978 tại Vĩnh Phúc; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Kim C, sinh năm 1956 và bà Phan Thị Đ, sinh năm 1958; vợ Lê Thị Minh H, sinh năm 1978; Con: có 02 con; con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 30/5/2024 đến ngày 05/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P (có mặt)
  2. Lê Hồng S, sinh ngày 28/4/1972 tại Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Lương Thị P, sinh năm 1939; vợ: Đào Thị Thanh H1, sinh năm 1977; Con: 01 con sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Bản án số 79/HSPT ngày 20/10/1998, Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xử 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 54 tháng về tội Trộm cắp tài sản, Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và Trốn khỏi nơi giam, thi hành xong khoản án phí ngày 1/9/1999, khoản tiền phạt ngày 5/8/2003; Bản án số 27/HSST ngày 23/3/2001, TAND tỉnh Phú Thọ xử 07 năm 06 tháng tù giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tổng hợp với bản án số 79/HSPT ngày 20/10/1998, buộc Lê Hồng S phải chịu hình phạt chung cho 02 bản án là 09 năm 09 tháng tù giam, ra trại ngày 30/08/2005, thi hành xong phần nghĩa vụ dân sự ngày 31/5/2001; Ngày 07/12/2005, Công an phường T, thành phố V xử phạt 100.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã nộp phạt ngày 12/01/2016; Năm 2010, Chủ tịch UBND thành phố V ra quyết định đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc thời gian 24 tháng, chấp hành xong ngày 28/9/2012. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 29/5/2024 đến ngày 04/6/2024 chuyển tạm giam. Hiện bị cáo đạng bị tạm giam tại trại tạm giam Công An tỉnh P, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 14 giờ 20 phút, ngày 29/5/2024, tại tổ G, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác Công an phường N, thành phố V tiến hành kiểm tra phát hiện Lê Hồng S, sinh năm 1972, hộ khẩu thường trú: Tổ B, khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, có dấu hiệu tàng trữ trái phép chất ma túy. Quá trình kiểm tra, S tự giác giao nộp 01 gói giấy có đặc điểm mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, S khai nhận đó là gói ma tuý heroine của S mục đích để sử dụng; ngoài ra còn thu giữ của S: 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đen đã cũ, số imei: 350501454337596, kèm sim số 0364931772 và tiền Việt Nam 200.000 đồng. Tại chỗ, Tổ công tác Công an phường N tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Lê Hồng S, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật. Công an phường N tiến hành Xét nghiệm chất ma túy đối với Lê Hồng S; kết quả: Sơn dương tính với chất ma túy. Cùng ngày, Công an phường N đã chuyển đối tượng cùng hồ sơ vụ việc tới Công an thành phố V giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 29/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh P giám định số chất bột cục màu trắng thu giữ khi bắt quả tang của Lê Hồng S.

Tại Bản kết luận giám định số 777/KL-KTHS ngày 01/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là: 0,199 gam, loại: Heroine (H5), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Hoàn trả lại: 0,131 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định đựng trong Bì niêm phong cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định của phòng K Công an tỉnh P”

Về nguồn gốc gói ma túy bị thu giữ, S khai mua của Trần Kim D, sinh năm 1978, trú tại thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc với giá 500.000 đồng vào khoảng hơn 12 giờ ngày 29/5/2024 tại xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc. Ngoài ra, S khai còn mua của D 01 gói ma túy với giá 300.000 đồng vào buổi sáng cùng ngày tại địa chỉ trên, số ma túy này S đã sử dụng hết.

Ngày 30/5/2024, Cơ quan CSĐT- Công an T đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Kim D. Quá trình thi hành lệnh, tạm giữ của D: 01 túi ni lon màu trắng một đầu có khuy bấm viền màu đỏ bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. D khai nhận đây là gói ma túy heroine của D mục đích để bán; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen đã cũ IMEI1: 355197672972515, kèm sim trong máy số 0964712175. Công an thành phố V tiến hành Xét nghiệm chất ma túy đối với Trần Kim D; kết quả: D dương tính với chất ma túy.

Ngày 30/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V đã ra Quyết định trưng cầu phòng K Công an tỉnh P giám định số chất bột cục màu trắng thu giữ khi bắt khẩn cấp Trần Kim D.

Tại Bản kết luận giám định số 778/ KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh P kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa bên trong 01 gói giấy gửi đến giám định là ma tuý, có khối lượng là: 0,204 gam, loại: Heroine (H5), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Hoàn trả lại: 0,169 gam chất bột cục màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định đựng trong Bì niêm phong cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định của phòng K Công an tỉnh P”

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hồng S và Trần Kim D khai nhận như sau:

Khoảng 18 giờ, ngày 28/05/2024, Trần Kim D, sinh năm 1978, HKTT: Thôn Đ, xã B, L, Vĩnh Phúc một mình từ nhà đi đến khu vực Cầu G thuộc huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc để tìm mua ma tuý. Tại đây, D gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi, người thấp gầy, D hỏi và mua được 01 túi ma tuý có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, viền màu đỏ, bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroin với giá 1.000.000 đồng. D cầm túi ma tuý rồi đi ra khu vực vắng người gần đó, mở túi ma tuý ra, tách lấy một phần, sử dụng cho bản thân, phần ma tuý còn lại D gói lại như cũ cất giấu trong người rồi đi về nhà. Đến khoảng hơn 10 giờ, ngày 29/05/2024, D đang ở nhà thì Lê Hồng S, sinh năm 1972, HKTT: khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ dùng điện thoại di động số 0364.931.xxx gọi đến số 0964712175 của D hỏi mua 300.000 đồng ma tuý heroin, D đồng ý bảo S sang khu vực ngã 3 đường B, thuộc Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi. Sau đó, D mở túi ma tuý ra, tách lấy một phần rồi gói vào gói giấy có đặc điểm là mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, phần ma tuý còn lại D gói lại như cũ cất giấu trên người rồi mang gói ma tuý đi ra chỗ hẹn gặp S để bán. Tại chỗ hẹn, S đưa cho D 300.000 đồng, D nhận tiền và đưa cho S gói ma tuý heroine được gói bằng giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng. D đi về còn S cầm gói ma tuý mua được đi đến chỗ vắng người gần đó, mở gói ma tuý ra sử dụng hết cho bản thân bằng hình thức tiêm chích.

Khoảng hơn 12 giờ ngày 29/05/2024, S tiếp tục gọi điện thoại di động cho D hỏi mua của D 500.000 đồng ma tuý heroin. D đồng ý bán, hẹn S gặp tại ngã 3 đường B thuộc Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi. Nghe điện thoại xong D mở túi ma tuý đang cất giấu trên người ra tách lấy một phần ma tuý gói vào gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, phần ma tuý còn lại D gói lại như cũ cất giấu trên người rồi đi ra chỗ hẹn. Tại nơi hẹn S đưa cho D 500.000 đồng, D nhận tiền đưa lại cho S gói ma tuý có đặc điểm là gói giấy có mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng, S cầm gói ma tuý mua được bỏ đi. D đi đến khu vực vắng người gần đó mở túi ma tuý cất giấu trên người ra, tách lấy một phần sử dụng cho bản thân, phần ma tuý còn lại D gói lại như cũ, cất giấu trong người rồi đi về nhà. Còn S cầm gói ma tuý mua được đi đến chỗ vắng người gần đó, dừng lại mở gói ma tuý ra tách một phần sử dụng cho bản thân, phần ma tuý còn lại Sơn gói lại như cũ rồi đúc vào túi quần bên phải đang mặc đi về. Khi đi đến khu vực thuộc khu 6c, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ thì bị tổ công tác công an phường N, thành phố V kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

Đối với Trần Kim D khoảng hơn 10 giờ, ngày 30/05/2024, D mang theo túi ma tuý có đặc điểm là túi nilon màu trắng, một đầu có khuy bấm, viền màu đỏ, bên trong có 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng, bên trong có chứa chất bột cục màu trắng là ma tuý heroin ra khu vực gần ngã 3 đường B, thuộc Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc để bán với giá 300.000 đồng. D đứng đó được một lúc, chưa kịp bán thì tổ công tác Công an thành phố V thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với D về hành vi mua bán trái phép chất ma tuý như đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 106/CT-VKSVT ngày 06/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố: bị cáo Trần Kim D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; bị cáo Lê Hồng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bị cáo Trần Kim S1 về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015; Tuyên bị cáo Lê Hồng S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015;

Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (Đối với bị cáo Trần Kim D); điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự (Đối với bị cáo Lê Hồng S);

Về hình phạt chính:

  • - Xử phạt bị cáo Trần Kim D từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/20024.
  • - Xử phạt: bị cáo Lê Hồng S từ 18 tháng đến 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.

Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo S 200.000đ. Miễm phạt bổ sung đối với bị cáo D.

Về xử lý vật chứng của vụ án:

  • - Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Lê Hồng S 0,131 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 777/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P, 01 sim số 0364931772 của S; của Trần Kim D 0,169 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 778/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0964712175 của D.
  • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại Samsung màu xanh đen của Lê Hồng S; 01 điện thoại Nokia màu xanh đen của Trần Kim D
  • - Buộc bị cáo Trần Kim D phải nộp lại 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Kim D và bị cáo Lê Hồng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng xử án các bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo, người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Trần Kim D và bị cáo Lê Hồng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng. Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay đều thống nhất phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Khoảng 10 giờ đến hơn 12 giờ, ngày 29/5/2024, tại khu vực gần ngã 3, đường B, thuộc xã Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Kim D, có hành vi hai lần bán trái phép ma túy (H) cho Lê Hồng S thu được số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng).

Đến hồi 14 giờ 20 phút, ngày 29/5/2024, tại tổ G, khu F, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, S bị tổ công tác Công an phường N, thành phố V phát hiện, bắt quả tang và thu giữ khối lượng 0,199 gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân.

Khoảng hơn 10 giờ, ngày 30/5/2024, tại khu vực gần ngã 3, đường B, thuộc thôn Đ, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc, Trần Kim D có hành vi tàng trữ trái phép khối lượng 0,204 gam ma túy Heroine mục đích để bán thì bị tổ công tác Công an thành phố V phát hiện, bắt, thu giữ vật chứng.

Như vậy, Trần Kim D phải chịu trách nhiệm hình sự về hai lần bán trái phép ma túy cho S với tổng khối lượng 0,403 gam ma túy Heroine gồm: Khối lượng 0,199 gam ma túy Heroine bán cho Lê Hồng S và khối lượng 0,204 gam ma túy H2 bị thu giữ khi bắt khẩn cấp. Do vậy D phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. S phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự

Xét thấy tính chất vụ án thuộc trường hợp tội nghiêm trọng và rất nghiêm trọng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương. Các bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vân thực hiện nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống chung xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cần xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo tỏ ra ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo S có mẹ là bà Lương Thị P có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng ba nên bị cáo S được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Do đó khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra thể hiện bị cáo D và bị cáo S là lao động tự do, không có thu nhập ổn định. Bị cáo S có 200.000đ là khoản tiền do lao động mà có, không liên quan đến việc phạm tội đó là một phần tài sản của các bị cáo nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Bị cáo D không có tài sản gì nên miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 bì niêm phong số 777/KL-KTHS ngày 01/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,131 gam chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine thu giữ của S; 01 bì niêm phong số 778/KL-KTHS ngày 03/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P hoàn trả bên trong có chứa 0,169 gam chất bột cục màu trắng là ma tuý heroine thu giữ của D là những vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp
  • - Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG vỏ màu xanh đen đã cũ, số imei: 350501454337596, kèm sim số 0364931772 là của S và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh đen đã cũ IMEI1: 355197672972515, kèm sim trong máy số 0964712175 là của D. S và D đã sử dụng hai chiếc điện thoại này để liên lạc trao đổi mua bán ma túy với nhau, đó là công cụ phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hai chiếc điện thoại này, còn 02 sim số không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • - Đối với số tiền 800.000 đồng là tổng số tiền D bán ma túy cho S 02 lần đó là khoản tiền do phạm tội mà có cần buộc S phải nộp lại để sung vào ngân sách nhà nước.
  • - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D ngày 28/05/2024 tại khu cầu G thuộc huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, do D không xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không có căn cứ để xác minh, làm rõ, xử lý đối với người này.
  • Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của S ngày 29/5/2024 và D ngày 30/5/2024, ngày 07/6/2024, Cơ quan điều tra đã chuyển Công an thành phố V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức Cảnh cáo.

[3]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 (Đối với bị cáo Trần Kim D); điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 (Đối với bị cáo Lê Hồng S); điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
    • - Xử phạt bị cáo Trần Kim D 08 (T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2025
    • - Xử phạt bị cáo Lê Hồng S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.

    Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo S 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Miễm phạt bổ sung đối với bị cáo D.

  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Lê Hồng S 0,131 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 777/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P, 01 sim số 0364931772 của S; của Trần Kim D 0,169 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 778/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0964712175 của D.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen số IMEI: 350501454337596 của Lê Hồng S; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen số IMEI1: 355197672972515 của Trần Kim D.
    • - Buộc bị cáo Trần Kim D phải nộp lại 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và Biên lai thu tiền số 0004646 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Kim D và bị cáo Lê Hồng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Công an thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - THA HS, DS thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ;
  • - Các bị cáo;
  • - UBND xã Bàn Giản, H.Lập Thạch, T.Vĩnh Phúc.
  • - UBND phường Nông Trang, TP. Việt Trì, T.Phú Thọ.
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Cao Thị Đào

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi ... giờ ... phút, ngày 27/9/2024, tại phòng nghị án Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Cao Thị Đào
  • Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Minh
  • 2. Ông Vũ Hùng Tuấn

Tiến hành nghị án vụ án hình sự thụ lý số 107/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Kim D, sinh ngày 06/3/1978 tại Vĩnh Phúc; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc;
  2. Lê Hồng S, sinh ngày 28/4/1972 tại Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ vào các điều 299 và Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ và không thuộc trường hợp phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung.
  2. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  3. Tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử.
  4. Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  5. Tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập và bị cáo, những người tham gia tố tụng khác cung cấp đều đảm bảo chặt chẽ đúng quy định, quy trình do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định.
  6. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  7. Có căn cứ để kết tội bị cáo Trần Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  8. Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 (Đối với bị cáo Trần Kim D); điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 (Đối với bị cáo Lê Hồng S); điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  9. Về mức hình phạt:
    • - Xử phạt bị cáo Trần Kim D 08 (T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2025
    • - Xử phạt bị cáo Lê Hồng S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.

    Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo S 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Miễm phạt bổ sung đối với bị cáo D.

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  10. Về vật chứng:
  11. - Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Lê Hồng S 0,131 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 777/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P, 01 sim số 0364931772 của S; của Trần Kim D 0,169 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 778/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0964712175 của D.

    - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen số IMEI: 350501454337596 của Lê Hồng S; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen số IMEI1: 355197672972515 của Trần Kim D.

    - Buộc bị cáo Trần Kim D phải nộp lại 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và Biên lai thu tiền số 0004646 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

    Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  12. Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự và miễm hình phạt.
  13. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí

  14. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Kim D và bị cáo Lê Hồng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  15. Kết quả biểu quyết: 3/3 nhất trí.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Số: 105/2023/TB - T1, ngày 27 tháng 9 năm 2024

THÔNG BÁO

KẾT QUẢ XÉT XỬ HÌNH SỰ

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ – TỈNH PHÚ THỌ

- Căn cứ vào Điều 262 của Bộ luật tố tụng hình sự;

Thông báo cho:

UBND xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và UBND phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ biết kết quả xét xử vụ án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo:

  1. Trần Kim D, sinh ngày 06/3/1978 tại Vĩnh Phúc; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc;
  2. Lê Hồng S, sinh ngày 28/4/1972 tại Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu C, phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 105/2024/HSST ngày 27 tháng 9 năm 2024 của Toà án nhân dân thành phố V - tỉnh Phú Thọ.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 (Đối với bị cáo Trần Kim D); điểm c khoản 1 và khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 (Đối với bị cáo Lê Hồng S); điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, điểm a, b, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Kim D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Bị cáo Lê Hồng S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
    • - Xử phạt bị cáo Trần Kim D 08 (T) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/5/2025
    • - Xử phạt bị cáo Lê Hồng S 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/5/2024.

    Hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước của bị cáo S 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Miễm phạt bổ sung đối với bị cáo D.

  2. Về xử lý vật chứng:
    • - Tịch thu, tiêu hủy: của bị cáo Lê Hồng S 0,131 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 777/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P, 01 sim số 0364931772 của S; của Trần Kim D 0,169 gam chất bột cục màu trắng còn lại sau giám định được đựng trong 01 bì niêm phong có số 778/KL- KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P và 01 sim số 0964712175 của D.
    • - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung màu xanh đen số IMEI: 350501454337596 của Lê Hồng S; 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen số IMEI1: 355197672972515 của Trần Kim D.
    • - Buộc bị cáo Trần Kim D phải nộp lại 800.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước.
    • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 09/9/2024 giữa Công an thành phố V và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì và Biên lai thu tiền số 0004646 ngày 09/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).
  3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Kim D và bị cáo Lê Hồng S mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì thông báo để UBND xã B, huyện L, tỉnh Vĩnh Phúc và UBND phường N, thành phố V, tỉnh Phú Thọ biết.

Nơi nhân:

  • -Như kg;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN

Cao Thị Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HSST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 105/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: D phạm tội mua bán trái phép chất ma túy, S phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger