|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG Bản án số: 105/2024/HS-ST Ngày 26 tháng 9 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phương Tùng và bà Huỳnh Hoa Hường.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 86/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Trần Thanh V, sinh năm 1973, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ B, khóm H, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: chạy xe mô tô chở khách; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn N và bà Nguyễn Thị B (chết); không có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 14/3/1995, Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C, có mặt.
2. Đoàn Bảo C, sinh năm 1978, tại thành phố C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ A, khóm D, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn H và bà Nguyễn Thị C1; vợ Trần Thị D đã ly hôn, có 01 người con sinh năm 1999.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân:
- Ngày 16/7/1996, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
- Ngày 13/8/1997, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
- Ngày 17/8/1998, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”;
- Ngày 03/12/2002, bị Tòa án nhân dân thị xã Châu Đốc, tỉnh An Giang xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Ngày 18/7/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”;
- Ngày 16/8/2017, bị Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
(Các bản án đã chấp hành xong).
- Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 23/4/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ - Công an thành phố C, có mặt.
Bị hại: Ông Nguyễn Đình T, sinh năm 1981, nơi cư trú: số A – B1, tầng 1, cao ốc B, khu phố E, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người làm chứng: Ông Nguyễn Ngọc Q, sinh năm 1985, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 21/4/2024, V điều khiển xe mô tô mượn của Nguyễn Ngọc Q đến cửa hàng bán phụ tùng ô tô “Trung” trên đường N, khóm C, phường C B để chở khách. Tại đây V phát hiện anh Nguyễn Đình T trong tình trạng say rượu, nằm ngủ trên ghế đá phía trước cửa hàng và thấy trong túi quần của T có bóp da và điện thoại di động nên V nảy sinh ý định lấy trộm nhưng không dám thực hiện một mình nên đến quán ăn “2 L" thuộc khóm C, phường V tìm gặp C rủ C đi lấy trộm thì C đồng ý. Sau đó, V chở C đến chỗ T đang nằm, V cảnh giới để C lấy trộm tài sản của T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro và 01 bóp da (bên trong có tiền Việt Nam 750.000 đồng; 01 miếng vàng 24kara, trọng lượng 02 chỉ cùng nhiều thẻ ngân hàng ATM và giấy tờ tùy thân). V chở C quay lại quán ăn, C chia cho V 350.000 đồng, C giữ 400.000 đồng, còn bóp da cùng thẻ ATM, giấy tờ tùy thân và điện thoại di động C cất giấu trên kệ để đồ của quán ăn, riêng miếng vàng C nghĩ đây là vàng giả không có giá trị nên đã ném bỏ. Cùng ngày, anh T thức dậy phát hiện mất trộm tài sản nên trình báo Công an. Công an trích xuất camera xác định được C, V lấy trộm tài sản của anh T nên tiến hành mời C, V làm việc, qua làm việc C, V thừa nhận hành vi lấy trộm tài sản của anh T.
Vật chứng thu giữ: 01 bóp da màu đen, bên trong có các thẻ ATM và giấy tờ cá nhân mang tên Nguyễn Đình T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro (đã trao trả cho bị hại Nguyễn Đình T); quần, áo của Trần Thanh V; 02 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A71 và N1 (do Trần Thanh V giao nộp); 03 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Đoàn Bảo C và Trần Thanh V lấy trộm tài sản của Nguyễn Đình T.
Căn cứ kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 986/KL-ĐG ngày 23/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, có gắn thẻ sim số 0913860679 mạng Vinaphone, trị giá 7.500.000 đồng; 01 ốp lưng màu đen, trị giá 10.000 đồng; 01 bóp nam màu đen, không rõ nhãn hiệu, trị giá 20.000 đồng; 01 miếng vàng 24 kara, hình ông thần tài, trọng lượng 02 chỉ, trị giá 14.940.000 đồng. Tổng giá trị tài sản 22.470.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 80/CT-VKSCĐ-HS ngày 19/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố các bị cáo Trần Thanh V và Đoàn Bảo C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo V, C khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại Nguyễn Đinh T1 và người làm chứng Nguyễn Ngọc Q vắng mặt nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu.
Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Khẳng định Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về vai trò đồng phạm: Đây là vụ án có đồng phạm, thuộc đồng phạm giản đơn, tuy nhiên cần phân hóa vai trò để xem xét, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của từng bị cáo để cá thể hóa hình phạt.
Đối với bị cáo Trần Thanh V trong vụ án này, bị cáo chủ động rủ rê bị cáo Chung thực hiện tội phạm; bị cáo giữ vai trò chính, chủ mưu phạm tội. Nhận thấy tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo có vai trò cao hơn bị cáo C.
Đối với bị cáo Đoàn Bảo C có vai trò đồng phạm là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm tài sản cùng bị cáo V, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự chung với bị cáo V nhưng tính chất, mức độ, vai trò thấp hơn.
Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thanh V từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; bị cáo Đoàn Bảo C từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cùng về tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 BLHS; Điều 106 BLTTHS, đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu, tiêu hủy quần, áo của Trần Thanh V liên quan đến vụ án; Trao trả cho bị cáo Trần Thanh V 02 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A71 và N1; Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Đoàn Bảo C và Trần Thanh V lấy trộm tài sản của Nguyễn Đình T.
- - Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên; trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị hại Nguyễn Đình T; người làm chứng Nguyễn Ngọc Q vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ các chứng cứ trên, có cơ sở xác định:
Các bị cáo Trần Thanh V, Đoàn Bảo C lợi dụng sự sơ hở của bị hại Nguyễn Đình T trong việc quản lý tài sản đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Nguyễn Đình T, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt số tiền 23.220.000 đồng.
Hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản; các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; thực hiện với lỗi cố ý; xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173, Bộ luật Hình sự.
Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về vai trò đồng phạm: Đây là vụ án có đồng phạm, thuộc đồng phạm giản đơn. Bị cáo Trần Thanh V là người chủ động rủ rê bị cáo Chung thực hiện tội phạm; bị cáo giữ vai trò chính, chủ mưu phạm tội, nên tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo có vai trò cao hơn bị cáo C.
Đối với bị cáo Đoàn Bảo C có vai trò đồng phạm là người thực hành, trực tiếp thực hiện hành vi lấy trộm tài sản cùng bị cáo V, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự chung với bị cáo V nhưng tính chất, mức độ, vai trò thấp hơn. Tuy nhiên, bị cáo Chung có nhân thân xấu nhiều lần bị kết án nên HĐXX căn nhắc khi quyết định hình phạt.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác mà còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản của mỗi công dân được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Những ai xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác sẽ bị áp dụng chế tài nghiêm khắc nhất là hình phạt.
Các bị cáo đang ở tuổi lao động, đáng lẽ, phải cố gắng lao động để tạo lập tài sản chính đáng cho bản thân nhưng các bị cáo bản chất lười lao động, để có tiền tiêu xài mà không tốn mồ hôi công sức, các bị cáo đã lợi dụng sơ hở của bị hại, trong việc quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt tài sản.
Xét về nhân thân, các bị cáo Trần Thanh V, Đoàn Bảo C là những người có nhân thân xấu. Trong đó, bị cáo C nhiều lần bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản”, “Cướp giật tài sản” và “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” vào các năm 1996, 1997, 1998, 2002, 2005 và 2017; Bị cáo V bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 1995 . Điều đó cho thấy, các bị cáo ý thức chấp hành pháp luật và quy định thấp, khả năng tự cải tạo, tu dưỡng, rèn luyện kém.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo tỏ rõ thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, nên HĐXX có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo khi lượng hình.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường, nên không đề cập xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- - Trong giai đoạn điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C đã giao trả lại bị hại T 01 bóp da màu đen, bên trong có các thẻ ATM và giấy tờ cá nhân mang tên Nguyễn Đình T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro là phù hợp với quy định nên không đề cập xử lý lại.
- - Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia của bị cáo Trần Thanh V sử dụng vào mục đích cá nhân, không liên quan đến việc phạm tội; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71, mặc dù bị cáo V sử dụng số tiền trộm cắp được để chuộc lại điện thoại, nhưng xét thấy điện thoại trên là tài sản bị cáo mua hợp pháp trước khi phạm tội, mặt khác bị hại cũng không yêu cầu các bị cáo bồi thường lại số tiền đã lấy trộm. Xét, trao trả 02 điện thoại trên cho bị cáo V là phù hợp.
- - Đối với 01 áo thu tay ngắn, màu xanh, 02 vai có sọc màu trắng, 01 quần dài màu xám không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu huỷ.
- - Đối với 03 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Đoàn Bảo C và Trần Thanh V lấy trộm tài sản của Nguyễn Đình T có giá trị chứng minh tội phạm. Xét, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án.
[8] Những vấn đề khác:
Trường hợp Nguyễn Đình T khai còn bị mất trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung Galaxy Z Fold4 5G, Trần Thanh V và Đoàn Bảo C không thừa nhận, ngoài lời khai của T thì không còn chứng cứ khác, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố C không quy kết trách nhiệm hình sự đối với V và C về tài sản này là có căn cứ.
[9] Về án phí và quyền kháng cáo:
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự,
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh V, Đoàn Bảo C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thanh V: 02 (hai) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo V được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/4/2024 (ngày hai mươi ba, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Bảo C: 02 (hai) năm năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo C được tính từ ngày bắt tạm giam ngày 23/4/2024 (ngày hai mươi ba, tháng tư, năm hai nghìn không trăm hai mươi bốn).
Căn cứ Điều 46, 47, 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Giao trả bị cáo Trần Thanh V 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, model: TA-1010, màu đen, số imei: 354198106554128, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 (2018), màu đen, suố imei 1: 867760034343393, imei 2: 867760034343385, đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ.
- - Tịch thu tiêu huỷ 01 áo thu tay ngắn, màu xanh, 02 vai có sọc màu trắng, đã qua sử dụng và 01 quần dài màu xám, đã qua sử dụng.
- (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 04/9/2024 giữa Cơ quan điều tra Công an thành phố C với Cơ quan Thi hành án dân sự thành phố C).
- - Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 03 đĩa DVD ghi lại hình ảnh Đoàn Bảo C và Trần Thanh V lấy trộm tài sản của Nguyễn Đình T.
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc các bị cáo Trần Thanh V1, Đoàn Bảo C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.
Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại vắng mặt được tính là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Lư Thị Châu Ngọc |
Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 105/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáp phạm tội trộm cắp tài sản
