TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 105/2024/HS-ST Ngày 23/9/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Trung - Cán bộ Hội Cựu chiến binh
2. Bà Võ Thị Thu Thảo - Cán bộ hưu trí
- Thư ký phiên toà: Ông Trương Thành Long - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Kim Thị Giàu- Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12, 17 và ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 01 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo: 1. Họ và tên: Nguyễn Thị T, sinh năm 1982 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1933 (đã chết) và bà Trần Thị H, sinh năm 1935; bị cáo có chồng tên Kiều Nhân H1, sinh năm 1982 (đã ly hôn), bị cáo có 01 người con sinh năm 2011 và hiện tại đang mang thai; tiền án: Không, tiền sự: Không; Bị cáo đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn L, sinh năm 1989 tại Cà Mau; nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1965 và bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Hồng G, sinh năm 1991; tiền án: Không, tiền sự: Không;
Bị cáo đang tại ngoại, bị cáo có mặt tại phiên toà.
- Bị hại: Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 09/7/2008; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có đơn xin vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu T3: Ông Lê Văn M - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh B. Có đơn xin vắng mặt.
Đại diện hợp pháp của cháu T3: Ông Nguyễn Giang T4, sinh năm 1966 (cha ruột); địa chỉ: Khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Nguyễn Giang T4, sinh năm 1966; địa chỉ: Khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T4: Ông Trần Hữu N - Luật sư thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Đ. Có đơn xin vắng mặt
2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1969; địa chỉ: Ấp K, xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 30/7/2023, Nguyễn Thị T đến quán cà phê 106 cũ trên đường T thuộc tổ C, khu phố B, thị trấn P, huyện P phụ dọn dẹp quán. Khi đến nơi, T thấy Nguyễn Thị T2 (chị gái của T) đang xảy ra cự cãi với ông Nguyễn Giang T4 (anh trai của bị cáo T và bà T2) về việc ông T4 lấy lại quán không cho bà T2 kinh doanh buôn bán nên xảy ra cự cãi với ông T4. Thấy vậy, ông T4 sử dụng điện thoại hiệu Iphone XR của mình để quay phim, bị cáo T nói với Nguyễn Văn L (con trai của bà T2) giật điện thoại của ông T4 nhằm mục đích không cho ông T4 quay phim vì sợ ông T4 đăng lên mạng xã hội facebook nhưng không được. Lúc này, Nguyễn Thanh Thủy S ngày 09/7/2008 (con gái ông T4) ở trong quán nghe tiếng ồn nên đi ra xem thì ông T4 đưa điện thoại Iphone XR cho Thủy cầm. Thấy vậy, bà T2 bỏ ra ngoài ngồi, L dùng tay đẩy ông T4 ra trước cổng quán đường Trần Quang D, dùng tay đánh 01 cái trúng vào vùng lưng của ông T4, ông T4 cầm một cây gỗ định đánh L nhưng không đánh mà ném xuống đất rồi lên võng nằm trước quầy pha chế của quán. T thấy T3 cầm điện thoại đi vào trong quán, T đi lại ôm T3 nhìn về phía L kêu L giật điện thoại trên tay T3. Nói xong, T buông T3 ra, còn L đi lại dùng tay giật lấy điện thoại trên tay của T3. Sau khi giật được điện thoại, L cầm điện thoại ra đưa cho T, T lấy bỏ vào túi quần phía sau rồi đem điện thoại cất vào cốp xe mô tô biển số 61F1-202.04 và điều khiển xe mô tô bỏ đi. Sau khi xảy ra sự việc, ông Nguyễn Giang T4 đến Công an thị trấn P trình báo sự việc, Công an thị trấn mời Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn L về làm việc, T, L thừa nhận toàn bộ hành vi của mình. Ngày 31/7/2023, Nguyễn Thị T giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Iphone XR 64GB màu đen cho Công an thị trấn P.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR 64GB màu đen là tài sản của ông Nguyễn Giang T4.
Tại Bản kết luận về tài sản số 45 ngày 11/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện P kết luận 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR 64GB màu đen trị giá 6.000.000đ (sáu triệu đồng). Tại Bản Cáo trạng số 17/CT-VKSPG ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh
Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn L về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX):- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171, Điều 65, điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án.
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171, Điều 65, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án..
- Xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XR là tài sản cá nhân của ông Nguyễn Giang T4. Ngày 11/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P ra quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho ông T4, ông T4 nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thanh T3 không có yêu cầu các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn L bồi thường.
Tại phiên Tòa đại diện hợp pháp của bị hại T3 đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Giang T4 trình bày: Về bồi thường thiệt hại: Ông không yêu cầu bồi thường đối với bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Nguyễn Văn L. Về xử lý hình sự đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo L, xin cho bị cáo L hưởng án treo để bị cáo có thời gian chăm lo cho bà ngoại, đối với bị cáo T đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận, bị cáo Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn L cho rằng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.
Trong lời nói sau cùng của các bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Thị T: Bị cáo xin lỗi bị hại và ông T4, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có điều kiện lo cho con.
Bị cáo Nguyễn Văn L: Bị cáo xin lỗi bị hại và ông T4, bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo, bị hại, đại diện bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.[2] Về thủ tục tố tụng: Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông T4: Luật sư Trần Hữu N và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu T3 là ông Lê Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt và có gửi bản bảo vệ cho Tòa án. HĐXX căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt những người nêu trên.
[3] Về nội dung vụ án: Các bị cáo Nguyễn Thị T, Nguyễn Văn L khai nhận: Khoảng 14 giờ ngày 30/7/2023, tại quán cà phê 106 cũ thuộc khu phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Dương, ông Nguyễn Giang T4 xảy ra cự cãi với bị cáo Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T2, Nguyễn Văn L. Sau đó, ông T4 sử dụng điện thoại Iphone XR của mình để quay phim nhằm mục đích đăng lên mạng xã hội Facebook. Khi ông T4 đưa điện thoại của mình cho cháu T3 bị cáo T kêu bị cáo Nguyễn Văn L giật điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XR 64GB, màu đen có giá trị là 6.000.000 đồng trên tay của bị hại Nguyễn Thanh T3, sinh ngày 09/7/2008 (tính đến thời điểm phạm tội bị hại T3 được 15 tuổi 21 ngày) nhằm mục đích không cho ông T4 phát tán lên mạng xã hội Facebook. Sau khi giật được điện thoại của bị hại T3, bị cáo L đưa cho bị cáo T cất giấu vào xe mô tô biển số 61F1-202.04. Sau khi sự việc xảy ra ông Nguyễn Giang T4 (cha của bị hại T3) đến Công an thị trấn P trình báo sự việc. Đến ngày 31/7/2023, bị cáo T giao nộp 01 điện thoại di động Iphone XR cho Cơ quan Công an.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội;
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội nghiêm trọng, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội giản đơn, không có sự bàn bạc trước mà do có sự mâu thuẫn với ông T4 nên chỉ nảy sinh ý thức chiếm đoạt tài sản khi bị ông T4 quay lại sự việc mâu thuẫn bằng máy điện thoại, do các bị cáo không muốn bị đưa lên mạng Facebook nên mới giật điện thoại để nhắm xóa các clip trong điện thoại. Khi thực hiện hiện hành vi phạm tội các bị cáo thực hiện với lỗi cố ý chiếm đoạt tài sản chỉ để nhằm mục đích không cho ông T4 đưa sự việc mâu thuẫn gia đình lên mạng Facebook. Tài sản các bị cáo chiếm đoạt là không lớn nhưng thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Hành vi đó đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu tới tình hình trật tự trị an xã hội.
Hành vi nêu trên của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Cướp giật tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tuy nhiên, người bị hại là người chưa thành niên nên phạm vào điểm khoản 2
Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Các bị cáo phạm tội đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Do vậy, HĐXX cần phải xử các bị cáo bằng pháp luật Hình sự và áp dụng mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
[5] Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hiện đang mang thai, bị cáo có cha ruột là Nguyễn Văn B tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, n khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Đối với bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo Nguyễn Văn L có ông ngoại tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước được tặng Huy chương kháng chiến hạng Nhì, đại diện bị hại ông Nguyễn Giang T4 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa xin cho bị cáo hưởng án treo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét vai trò phạm tội: Các bị cáo không có sự chuẩn bị, bàn bạc trước, bị cáo T là người chủ mưu, xúi giục bị cáo L phạm tội. Bị cáo L là người thực hành, việc các bị cáo cướp điện thoại từ tay bị hại mục đích chỉ xóa clip quay trong điện thoại để ông T4 không đăng sự việc lên Facebook.
Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. HĐXX xét thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1,2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng. Ngoài ra, các bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm nên HĐXX quyết định cho các bị cáo được hưởng hình phạt tù có điều kiện theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự và Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo cũng đủ tác dụng răn đe, cải tạo bị cáo, khuyến khích bị cáo tự tu dưỡng và lao động tại cộng đồng với sự giúp đỡ của gia đình và xã hội. [6] Xét mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với các bị cáo là phù hợp với hành vi, tính chất, tình tiết của vụ án [7] Xét bài bảo vệ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Nguyễn Giang T4 là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận.
[8] Xét bài bảo vệ của của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu T3 là phù hợp nên được HĐXX chấp nhận
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thanh T3, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Giang T4 không có yêu cầu bồi thường nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone XR là tài sản cá nhân của ông Nguyễn Giang T4. Ngày 11/9/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại điện thoại trên cho ông T4, ông T4 nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[11] Đối với hành vi Nguyễn Giang T4 dùng tay đánh trúng vào mặt Nguyễn Thị T2 một cái, trúng vào bụng bị cáo Nguyễn Thị T 01 cái nhưng không có thương tích gì. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[12] Đối với hành vi bị cáo Nguyễn Văn L dùng tay đánh 01 cái trúng vào lưng của ông Nguyễn Giang T4 không bị thương tích gì nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P không đề cập xử lý, Viện kiểm sát không đặt ra xem xét. nên HĐXX không đặt ra xem xét.
[13] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T và bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Về áp dụng pháp luật và mức hình phạt:
2.1 Căn cứ điểm s, n khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65, điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ H3 "37" \o "luật" luật Hình sự về án treo;Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (23/9/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện P, tỉnh Bình Dương giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2.2 Căn cứ điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65, điểm g khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo;
Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm kể từ ngày tuyên án (23/9/2024).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về trách nhiệm dân sự: Đương sự không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về vật chứng của vụ án: Đã xử lý xong nên Hội đồng xét xử không đề cập đến.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T, bị cáo Nguyễn Văn L mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại, vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hiên |
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
Phạm Văn Trung Võ Thị Thu Thảo | Nguyễn Thị Hiên |
Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG về cướp giật tài sản
- Số bản án: 105/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ GIÁO, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị T và Nguyễn Văn L phạm tội cướp giật tài sản
