|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 106/2024/HSST Ngày: 23 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Mỳ và ông Chu Hồng Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Thúy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ tham gia phiên toà: Ông Phạm Văn Vũ - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên, tiến hành xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số:100/2024/TLST-HS ngày 06/9/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:102/2024/QĐXX ngày 09/9/2024, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn L, tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 10/10/1977;
Nơi cư trú: xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không.Trình độ học vấn: 8/12; nghề nghiệp: Làm ruộng. Con ông: Nguyễn Văn C (Đã chết); con bà: Trần Thị C1 (Đã chết); bị cáo có 04 anh, chị, em, L là con thứ tư; có vợ: Hoàng Thị N, sinh năm 1976; vợ chồng có 02 con chung: (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2018);
Tiền án, tiền sự: Không.
Biện pháp ngăn chặn: Nguyễn Văn L bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/07/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
2. Dương Kim V; tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam.
Sinh ngày 24/4/1992;
Nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao;Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 07/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông: Dương Trung T, sinh năm 1950; con bà Phương Thị L1, sinh năm 1957; có vợ: Hoàng Thị T1, sinh năm 1995; Có 02 con, (con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2016); Bị cáo có 04 anh, chị em, V là con thứ tư trong gia đình.
Tiền án: 01 tiền án.
- + Tại Bản án số 70/2021/HS-ST ngày 16/7/2021, TAND huyện Đại Từ xử phạt Dương Kim V 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023.
Tiền sự: Không.
Nhân thân:
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 59/QĐ-XPHC ngày 03/9/2013, Công an huyện Đ quyết định xử phạt số tiền 750.000 đồng về hành vi đánh nhau;
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 83/QĐ-XPVPHC ngày 28/3/2017, Công an huyện Đ quyết định xử phạt V số tiền 350.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua các số lô, số đề;
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 0138964/QĐ - XPHC ngày 26/5/2017, Công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V số tiền 1.500.000 đồng về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý;
- + Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0018827/QĐ-XPHC ngày 30/9/2019, Công an huyện Đ quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với V số tiền 750.000 đồng về hành vi mua dâm;
- + Tại Quyết định số 32/QĐ-TA ngày 10/8/2018, TAND huyện Đại Từ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với V trong thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong ngày 11/01/2021.
Biện pháp ngăn chặn: Dương Kim V bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/6/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Phạm Thị N1, sinh năm 1978;(Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người làm chứng:
- - Anh Lê Văn B, sinh năm 1985;
- Nơi cư trú: Xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Bà Phạm Thị T2, sinh năm 1956;
- Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- - Anh Phạm Văn A, sinh năm 1989;
- Nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Người chứng kiến:
Chị Hoàng Thị N, sinh năm 1976;
Nơi cư trú: Xóm G, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
3
(Người làm chứng và người chứng kiến đều vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 ngày 17/6/2024, tổ công tác của Công an xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đang tiến hành làm nhiệm vụ tuần tra đảm bảo an ninh trật tự tại khu vực xóm D, xã T, huyện Đ, thì phát hiện một đối tượng nam giới đi xe mô tô kiểu dáng DRAEM màu nâu BKS 20H2 2307, không đội mũ bảo hiểm, xe không có gương chiếu hậu, không có đèn có biểu hiện nghị vấn liên quan đến ma tuý. Tổ công tác yêu cầu dừng xe tiến hành kiểm tra thì đối tượng tự giác khai nhận tên là Dương Kim V, sinh năm 1992, nơi cư trú: Xóm B, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình kiểm tra Dương Kim V khai nhận đang cất giấu ma túy trong người và tự giác lấy từ trong túi quần bên phải mà V đang mặc ra 01 bao thuốc lá màu vàng có dòng chữ THĂNG LONG bên trong có 01 gói giấy màu trắng loại giấy học sinh bên trong chứa các cục chất bột màu trắng (V khai nhận là chất ma tuý, loại Heroine mua của Nguyễn Văn L (tên gọi khác là T3), trú tại xóm G, xã T, huyện Đ số tiền 500.000đ về để sử dụng cho bản thân), ngoài ra còn tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, đen.Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ, và niêm phong vật chứng gồm: gói ma túy ký hiệu A, điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh, đen ký hiệu V, và các vật chứng thu giữ khác gồm:
- + 01 bao thuốc lá màu vàng có dòng chữ THĂNG LONG bên trong có một gói giấy màu trắng loại giấy học sinh bên trong chứa các cục chất bột màu trắng;
- + 01 điện thoại di động màu xanh đen nhãn hiệu Masstel đã qua sử dụng, có lắp sim V2 số thuê bao 0962.856.592;
- + 01 xe mô tô nhãn hiệu DRIN, BKS 20H2 – 2307.
Tiếp nhận thông tin và lời khai của đối tượng, hồi 07 giờ 15 phút và 08 giờ cùng ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, địa điểm, phương tiện đối với Dương Kim V và Nguyễn Văn L. Kết quả: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 11 giờ 00 phút, ngày 18/6/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ phối hợp với Phòng K Công an tỉnh T tiến hành mở niêm phong, tiến hành cân xác định khối lượng số chất bột màu trắng thu giữ của V trong phong bì niêm phong ký hiệu A.
Tình trạng đồ vật, tài liệu sau khi mở niêm phong: Bên trong phong bì ký hiệu A có 01 vỏ bao thuốc lá thăng long bên trong 01 gói chất bột màu trắng nghi là ma túy loại Heroine;
Phần cân xác định khối lượng vật chứng và lấy mẫu giám định:Cho toàn bộ số chất bột màu trắng trong phong bì ký hiệu A lên cân điện tử xác định tổng khối lượng là 0,331 (không phẩy ba ba một) gam (đã trừ bì). Lấy toàn bộ chất bột màu trắng có trong phong bì ký hiệu A để làm mẫu giám định được niêm phong vào bì niêm phong ký hiệu A1, dán kín các mép dán. Vỏ giấy gói, và vỏ bì niêm phong A cho vào phong bì ký hiệu A2 phục vụ công tác điều tra.
4
Cùng ngày 18/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định số: 934/QĐ - HSKTMT đối với mẫu niêm phong ký hiệu A1 thu của Dương Kim V, yêu cầu giám định để xác định: Mẫu giám định có phải là chất ma túy, tiền chất dùng vào sản xuất trái phép chất ma túy không? Loại chất ma túy? Khối lượng thu giữ ban đầu là bao nhiêu?
Tại bản Kết luận giám định số:3748/KL - KTHS ngày 26/6/2024, của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận:
Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu Al gửi giám định là chất ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng thu giữ ban đầu là: 0,331 gam.
Ngày 02/7/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ ra Lệnh bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Văn L để điều tra về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra, Dương Kim V và Nguyễn Văn L khai nhận như sau:
- Lời khai của Dương Kim V: Khoảng 19 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, V mượn xe mô tô của Phạm Văn A, trú tại xóm A, xã T, huyện Đ(là xe của chị Phạm Thị N1, chị gái ruột của anh Phạm Văn A, là người đã cho V mượn xe) rồi từ nhà A đến nhà Nguyễn Văn L (V gọi là Thới), trú tại xóm G, xã T, huyện Đ để mua ma túy, đến cổng nhà L, V gọi “Chú T3 ơi” vì cổng nhà L đang đóng, sau đó L ra gặp và V đưa cho L 500.000đ, L đưa cho V một gói giấy màu trắng bên trong có chứa ma túy. Sau khi cầm ma túy V cho gói ma túy vào bao thuốc lá hiệu THĂNG LONG cho vào túi quần bên phải đang mặc đi về tìm nơi sử dụng ma túy, khi V đi đến khu vực xóm D, xã T, huyện Đ thì bị Tổ công tác của Công an xã T phát hiện bắt giữ.
- Lời khai của Nguyễn Văn L: L là đối tượng nghiện ma tuý và không có thu nhập ổn định nên đã có ý định mua ma túy về bán cho người nghiện để kiếm lời. Vào khoảng 08 giờ ngày 17/6/2024, L từ nhà đi xuống khu vực đường T thuộc phường T, TP .. Tại đây, L đã gặp và mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (L không rõ lai lịch và địa chỉ) được 01 gói ma tuý loại Heroine được gói bằng giấy trắng với số tiền 500.000 đồng. Sau khi mua được ma tuý, L mang về nhà và đã sử dụng hết một phần, phần còn lại L vẫn cất giấu trong túi quần đang mặc nếu có ai hỏi mua thì bán kiếm lời. Đến khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, L đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại của Dương Kim V qua số điện thoại 0963.856.xxx gọi cho L qua số điện thoại 0814.966.xxx hỏi mua ma tuý thì L đồng ý và hẹn đến nhà để giao ma túy. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, V một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, BKS: 20H2-2307 đến nhà L. Tại đây, V đưa cho L số tiền 500.000 đồng, L nhận tiền rồi đưa cho V 01 gói ma tuý loại Heroine mà L đang cất giấu trong túi quần. V nhận gói ma tuý rồi cất giấu vào trong bao thuốc lá của mình rồi đi về tìm nơi sử dụng. Đến khoảng 20 giờ ngày 17/6/2024, khi V đi đến khu vực xóm D, xã T, huyện Đ thì bị Tổ công tác của Công an xã T phát hiện, bắt quả tang thu giữ vật chứng. Sau khi biết thông tin V bị bắt, L đã bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 02/7/2024, L đã đến Công an huyện Đ làm việc và khai nhận toàn bộ hành vi bán trái phép chất ma túy cho V ngày 17/6/2024. Về số tiền bán ma túy cho V 500.000₫ sau đó L tiếp tục mua ma túy để sử dụng hết.
5
Với nội dung nêu trên, tại bản cáo trạng số: 104/CT - VKSĐT, ngày 06/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy". Theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật hình sự. Truy tố Dương Kim V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy". Theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
- Giữ nguyên Quyết định truy tố đối với hai bị cáo về tội danh tại bản Cáo trạng đã thể hiện.
Nhân thân: Bị cáo L chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo V có nhân thân xấu, có 01 tiền án về cùng loại tội chưa được xóa án tích. Đề nghị HĐXX cân nhắc mức án khi lượng hình.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L, Dương Kim V được hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo Điều 52 Bộ luật hình sự;
Bị cáo Dương Kim V phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 BLHS.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, bị cáo Dương Kim V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt chính. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s, khoản 1, Điều 51, điểm h, khoản 1, Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Kim V tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” mức án từ 36 đến 42 tháng tù.
- - Áp dụng: Khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 30 đến 36 tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5, Điều 251 Bộ luật hình sự, phạt bổ sung bị cáo L từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng để sung quỹ nhà nước vì bị cáo bán ma túy cho V thu lời.
2.Về vật chứng. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định.
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh, đã qua sử dụng, bên trong lắp 01 sim 0962.856.592 của Dương Kim V;
- - Trả lại chị N1: 01 xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, BKS 20H2 – 2307, đã qua sử dụng;
- - Truy thu số tiền bán ma túy 500.000đ của bị cáo bán ma túy mà có, bị cáo phải nộp để thi hành án.
3. Về án phí: Đề nghị Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/QH14 các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo và người liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Phần tranh tụng và đối đáp:
Ý kiến của của các bị cáo: Nhất trí với luận tội của VKS xin HĐXX cho mức án nhẹ nhất.
Kết thúc phần tranh tụng: bị cáo, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ không đưa ra quan điểm đối đáp, tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng của hai bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghỉ nghị án: Các bị cáo đã thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo xin cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Trong quá trình điều tra vụ án, các quyết định và các hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Tất cả các Quyết định tố tụng trong vụ án đều được lập, giao nhận cho những người tham gia tố tụng theo đúng trình tự mà pháp luật quy định. Các tài liệu, chứng cứ đã thu thập đều phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án, phù hợp với diễn biến của phiên tòa và có đủ cơ sở để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[1.2].Người tham gia tố tụng là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị N1) có đơn xin xét xử vắng mặt; người chứng kiến vắng mặt mặt tại phiên toà không có lý do. Hội đồng xét xử thấy rằng, trong hồ sơ đã có lời khai thể hiện quan điểm của họ; Kiểm sát viên, bị cáo cũng đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc người tham gia tố tụng nêu trên vắng mặt không gây trở ngại cho quá trình xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt người liên quan và người làm chứng, giành quyền kháng cáo cho người liên quan vắng mặt theo quy định của pháp luật.
[1.3]. Về tên gọi khác của bị cáo Nguyễn Văn L: Trong giai đoạn điều tra bị cáo L khai còn có tên gọi khác là T3. Tuy nhiên, trên các văn bản giao dịch và giấy tờ tùy thân, căn cước chỉ thể hiện tên là Nguyễn Văn L, không có tên gọi khác; tên T3 chỉ anh em, bè bạn gọi thân mật nên bị cáo xác định không có tên gọi khác, chỉ có tên duy nhất là Nguyễn Văn L theo danh, chỉ bản do Công an đã lập.
7
[2]. Đánh giá về tội danh bị truy tố đối với các bị cáo:
[2.1]. Đối với bị cáo Nguyễn Văn L:
Trong suốt quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận giữa bị cáo với bị cáo Dương Kim V cùng bị xét xử trong vụ án không có mối quan hệ họ hàng, không có mâu thuẫn gì, chỉ đơn thuần là bạn nghiện ma túy. Do nghiện ma túy và sức khỏe yếu nên bị cáo đã nẩy sinh ý định mua ma túy về sử dụng một phần, một phần bán lại để kiếm lời lấy tiền sử dụng ma túy. Vào khoảng 19 giờ 50 phút cùng ngày, L đang ở nhà thì nhận được cuộc điện thoại của Dương Kim V qua số điện thoại 0963.856.xxx gọi cho L qua số điện thoại 0814.966.xxx hỏi mua ma tuý thì L đồng ý và hẹn đến nhà để giao ma túy. Khoảng 20 giờ 00 phút cùng ngày, V một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu LIFAN, BKS: 20H2-2307 (là xe của chị Phạm Thị N1, chị gái ruột của anh Phạm Văn A, là người đã cho V mượn xe) đến nhà L. Tại đây, V đưa cho L số tiền 500.000 đồng, L nhận tiền rồi đưa cho V 01 gói ma tuý loại Heroine mà L đang cất giấu trong túi quần. Bị cáo xác định bán cho V 01 gói ma túy với giá 500.000đ.
Về số tiền bán ma túy 500.000đ, sau khi bán ma túy cho V thông tin V bị bắt nên bị cáo bỏ trốn khỏi địa phương, trong khi đi trốn đã sử dụng tiền bán ma túy tiếp tục mua ma túy sử dụng hết.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo L cũng như kết quả thu thập chứng cứ, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định bị cáo L có hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo V, ngày 17/6/2024 và là vi phạm pháp luật, song vẫn cố ý thực hiện nên hành vi, ý thức của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma tuý".
[2.1].Đối với bị cáo Dương Kim V:
Tại phiên toà bị cáo Dương Kim V xác định là người nghiện ma nhiều năm mặc dù đã bị đưa ra xét xử mức án 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngoài ra được đưa đi cai nghiện bắt buộc nhưng không từ bỏ được ma túy, ngày 17/6/2024, bị cáo đi mua ma túy chủ yếu phục vụ cho việc nghiện. Việc bắt quả tang, cân trọng lượng ma túy được 0,331 gam, kết quả giám định là ma túy loại Heroine bị cáo xác nhận hoàn đúng sự thật và được chứng kiến cân trọng lượng cũng như thông báo kết luận giám định về loại, chất ma túy. Quá trình thực hiện việc mua ma tuý, không có đồng phạm cùng tham gia thực hiện với bị cáo. Căn cứ vào lời khai nhận tội của bị cáo, xét thấy phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Dương Kim V đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,331gam ma túy loại Heroine, mục đích mua để sử dụng cho bản thân do nghiện. Bị cáo cũng xác định mua ma tuý để phục vụ nghiện, không có mục đích mua, bán và không có đồng phạm cùng tham gia.
[3]. Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Nguyễn Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự và truy tố Dương Kim V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản1 Điều 249 Bộ luật hình sự, tại Bản cáo trạng số: 104/CT-VKSĐT ngày 06/9/2024 với tội danh và điều luật đã viện dẫn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, cụ thể điều luật truy tố có nội dung:
8
Điều 251. Tội mua bán trái phép chất ma túy
1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
“Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...
c) Heroine... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;
[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng thấy rằng:
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi (Heroine) được giám định có tên khoa học là Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất tuyệt đối cấm hoặc chỉ sử dụng trong y học, được quy định 4 danh mục trong Nghị định. Hành vi phạm tội của các bị cáo không những xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đặc biệt là các chất ma tuý. Bị cáo L và V có đủ nhận thức để hiểu những quy định cấm đoán của pháp luật đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy. Hành vi mua bán và tàng trữ trái phép chất ma tuý là hành vi nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm.
Xét nhân thân để Hội đồng xét xử cân nhắc mức án trong khi lượng hình đối với các bị cáo thì thấy: Bị cáo Dương Kim V có nhân thân quá xấu, từng 4 lần bị Công an huyện Đ ra Quyết định xử phạt hành chính về các hành vi: Đánh nhau (năm 2013); đánh bạc trái phép (năm 2017); tàng trữ ma túy (năm 2017); chứa mại dâm (năm 2019). Năm 2018 TAND huyện Đại Từ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Ngoài ra bị cáo Dương Kim V là người đã từng bị đưa ra xét xử và kết án về cùng loại tội là “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Cụ thể: Tại Bản án số 70/2021/HS-ST ngày 16/7/2021, TAND huyện Đại Từ xử phạt V 30 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2023. Tuy nhiên, bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng mà tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện sự coi thường pháp luật.
Qua xác minh việc thi hành án thì Dương Kim V chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí hình sự của bản án, chưa được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của bộ luật hình sự. Do vậy, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là tái phạm.
9
Còn bị cáo Nguyễn Văn L tuy có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. nhưng chỉ vì nghiện ma túy mà bị cáo vi phạm pháp luật. Tại phiên toà thể hiện sự khai báo thành khẩn, ân hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ xem xét mức án đối với bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa cả hai bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn nên được hưởng chung 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đó là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Dương Kim V phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự là “tái phạm”. Bị cáo Nguyễn Văn L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5]. Nhận định của Hội đồng xét xử nhận định về hình phạt cần áp dụng: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức đầy đủ hành vi tàng trữ, mua bán trái phép là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, hơn nữa để mang tính giáo dục và răn đe đối với người phạm tội, cần thiết áp dụng hình phạt tù có thời hạn theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với hai bị cáo đủ để làm gương và răn đe phòng ngừa chung.
[6]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Xét thấy việc mua, bán ma túy của bị cáo L là nhằm thu lợi bất chính, cần phạt khoản tiền nhất định để sung công quỹ Nhà nước.
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo V.
[7]. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã trình bày luận tội đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử kết tội các bị cáo như Cáo trạng đã truy tố, đề nghị mức hình phạt tù và đề xuất về xử lý vật chứng. Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ của vụ án và diễn biến, kết quả tranh tụng tại phiên tòa cũng như nhận định của Hội đồng xét xử. Vì vậy, được chấp nhận.
[8]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Phạm Thị N1, tuy vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong giai đoạn điều tra chị N1 xác định: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu DRIN, BKS 20H2-2307. (Tại Thông báo kết quả tra cứu xe máy vật chứng mang tên chủ sở hữu anh Nguyễn Văn V1, sinh năm 1967, trú tại xóm H, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên), anh V1 đã bán chiếc xe nêu trên cho chị Phạm Thị N1 trú tại xóm A, xã T, huyện Đ năm 2015 với giá 3.000.000đ nên xác định chị N1 là chủ sử dụng hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo V xác định là xe mượn của anh A (A là em chị N1), chị N1 cũng không biết V mượn xe sau đó dùng làm phương tiện đi mua ma túy, chị đề nghị được xin lại để sử dụng đi làm. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định trả lại chiếc xe mô tô cho chị N1 theo quy định.
10
[9].Về xử lý vật chứng vụ án:
- -Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định gồm: 03 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và A2 và ĐT (bên trong là mẫu giám định còn lại; vỏ giấy gói và vỏ bì niêm phong A);
- - Tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:
- + 01 điện thoại di động nhãn hiệu Mastel, màu xanh đã qua sử dụng bên trong lắp 01 sim 0962.856.592;
- - Trả lại chị Phạm Thị N1 01 xe mô tô nhãn hiệu DRIN, BKS 20H2-2307, đã qua sử dụng.
- - Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa file ghi âm trong điện thoại của Nguyễn Văn L.
- - Tại phiên tòa bị cáo L khai bán ma túy được 500.000₫ sau đó lại dùng để mua ma túy. Do vậy, cần truy thu số tiền bán ma túy này buộc bị cáo phải nộp để sung quỹ Nhà nước.
[10]. Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn L, Dương Kim V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án, được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[11]. Về các vấn đề khác của vụ án:
[11.1].Về nguồn gốc chất ma túy, loại Heroine mà L bán cho V vào ngày 17/6/2024, L khai mua của người đàn ông khoảng 40 tuổi, không rõ lai lịch và địa chỉ tại khu vực đường T thuộc phường T, TP ., tỉnh Thái Nguyên. Do không xác định được lai lịch địa chỉ của người bán ma túy cho L nên không có căn cứ điều tra, xử lý người bán ma túy nên Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.
[11.2].Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu LIFAN, BKS 20H2-2 307 bị cáo V sử dụng để làm phương tiện đi mua ma túy. Qúa trình điều tra xác định chị Phạm Thị N1 (là chủ sử dụng) không biết việc V điều khiển xe mô tô làm phương tiện đi mua ma túy nên nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện Đ không xem xét xử lý đối với chị N1 là có căn cứ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; bị cáo Dương Kim V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Hình phạt chính:
2.1.Áp dụng khoản 1 Điều 251; Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn L 30 (Ba mươi) tháng tù.
11
Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 02/7/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn L 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
2.2.Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 (tái phạm); Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt:
Bị cáo Dương Kim V 36 (Ba mươi sáu) tháng tù.
Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 18/6/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự Quyết định tạm giam bị cáo Dương Kim V 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
3. Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự:
Phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Văn L 5.000.000đ (năm triệu đồng) để sung công quỹ Nhà nước.
Miễn hình phạt tiền cho bị cáo Dương Kim V.
4. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
4.1. Tịch thu tiêu hủy: 03 phong bì niêm phong ký hiệu A1 và A2 và ĐT đều còn nguyên tình trạng niêm phong.
(Theo biên bản đóng gói, niêm phong giao nhận lại đối tượng giám định ngày 26/6/2024, giữa Phòng K Công an tỉnh T với Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ghi: Hoàn lại 1,321 gam mẫu Al còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong ký hiệu A1).
4.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước:
01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu xanh đã qua sử dụng bên trong có lắp sim 0962.856.592, số IMEI: 358044846958607;
4.3. Trả lại chị Phạm Thị N1 01 xe mô tô nhãn hiệu DRIN, mang BKS 20H2-2307, đã qua sử dụng, số khung: DR 10000005362, số máy: 1P501FMG 3103382311, màu sơn nâu.
(Tình trạng vật chứng được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đại Từ, đặc điểm mô tả theo biên bản giao nhận giữa Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ ngày 19/9/2024).
5. Biện pháp tư pháp khác:
- - Truy thu số tiền thu lợi 500.000đ, đối với Nguyễn Văn L do bị cáo bán ma túy để sung quỹ Nhà nước. Bị cáo L phải nộp để thi hành án.
- - Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án: 01 đĩa CD chứa file ghi âm trong điện thoại của Nguyễn Văn L.
6. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
12
Buộc bị cáo Nguyễn Văn L và Dương Kim V mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
6. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331,Điều332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo tại phiên toà. Báo cho biết, bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Chị N1) tại phiên toà. Báo cho biết, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết công khai hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Hà |
Bản án số 106/2024/HSST ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 106/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo đều là người nghiện, mua ma túy về để sử dụng bị bắt quả tang
