Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH TƯỜNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 19-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH TƯỜNG - TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Thông

2. Bà Nguyễn Thị Thanh Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 88/2024/TLST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 109/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn T, sinh ngày 10/01/1995; nơi cư trú: Thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1970 và bà Nghiêm Thị H, sinh năm 1971; có vợ là Đào Thị Thu H1 (đã ly hôn) và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không.
  2. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 25/02/2024 đến ngày 04/3/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

  3. Lê Văn T1, sinh ngày 26/7/1993; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu E, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi ở hiện nay: Khu C, thị trấn T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1973; vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.
  4. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26/02/2024 đến ngày 04/3/2024 chuyển tạm giam đến nay có mặt tại phiên tòa.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Bùi Văn T3, sinh năm 1973; Địa chỉ: Bản N, xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên (vắng mặt).
  • - Nguyễn Văn C, sinh năm 1970; Địa chỉ: Thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Phùng Văn D (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 19 giờ 30 ngày 25/02/2024, Nguyễn Văn T đang ở nhà thì nhận được điện thoại từ số thuê bao 0974.002.611 của một người đàn ông không quen biết gọi đến số thuê bao 0986.129.291 của T, qua điện thoại người đó hỏi mua của T 500.000đ tiền ma túy đá. Do có sẵn ma túy đá, T đã nảy sinh ý định bán để kiếm lời nên đồng ý và hẹn người đàn ông đó đến khu vực ngã tư đường N khoảng 100m thuộc thôn P, xã B để giao nhận ma túy mua bán. Sau đó, T cuộn túi ma túy đá vào 01 tờ giấy ăn màu trắng và cất vào túi áo khoác bên trái phía trước Tuyến đang mặc rồi một mình điều khiển xe mô tô gắn biển kiểm soát 88L1-129.29 đi đến điểm hẹn để bán ma túy. Khi đến nơi, T dừng xe đứng chờ người mua ma túy đến để T bán thì tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh V phối hợp với công an xã B kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang T có hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng liên quan gồm:

  • - Thu giữ tại túi áo khoác bên trái của Nguyễn Văn T đang mặc 01 túi nilon màu trắng được cuốn bên ngoài bởi 01 tờ giấy ăn màu trắng, bên trong túi nilon này có đựng các tỉnh thể màu trắng. Nguyễn Văn T tự khai nhận đây là túi ma tuý đá của T đem đi để bán nhưng chưa kịp bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Vật chứng được niêm phong vào 01 phong bì giấy theo thủ tục pháp luật, ký hiệu A1.
  • - Thu giữ của T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám, đã cũ, đã qua sử dụng có số IMEI: 354444065269815 bên trong lắp sim thuê bao 0986.129.291.
  • - Tạm giữ của T 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream, gắn biển kiểm soát 88L1-129.29.

Về nguồn gốc ma túy T khai nhận: Do là đối tượng sử dụng ma tuý đá nên thông qua bạn bè quen biết ngoài xã hội, thỉnh thoảng T đến nhà Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 ở cùng thôn với T tìm Bùi Văn T3, sinh năm 1973, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại: xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên (T3 sinh ra và lớn lên ở thôn P, xã B) để mua ma tuý sử dụng. Ngoài ra, khi có người hỏi mua ma tuý thì T tìm gặp, lấy ma tuý của T3 đem đi bán rồi về đưa tiền cho T3 nên thỉnh thoảng T3 có cho T ma tuý để sử dụng. Vào khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, khi T đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi đến từ tài khoản Facebook Messenger mang tên “Bùi Tám” của Bùi Văn T3 gọi đến tài khoản Facebook M mang tên “Tiến Đạt” được cài đặt trên chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 màu xám đã cũ của T, qua điện thoại T3 bảo T đến nhà C để T3 cho T ma túy đá (Methamphetamine), T đồng ý. Sau đó, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream đã cũ gắn biển kiểm soát 88L1-129.29 đi đến nhà C. Khi đến nơi, T thấy T3 đang đứng ở trong sân nhà C (cách cổng khoảng 5m, cửa cổng khoá), thấy T đến nên T3 đi ra đưa qua khe cửa cổng cho T 01 túi ma túy đá được bọc bên ngoài bằng nilon màu trắng. Tuyến cầm túi ma túy đó cất vào túi áo khoác bên trái phía trước đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà. Sau đó T nhận được cuộc gọi hỏi mua ma tuý và hẹn giao nhận ma tuý nhưng chưa kịp giao thì bị phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) - Công an tỉnh V tiến hành xác minh, triệu tập đối tượng Bùi Văn T3. Hồi 23 giờ 15 phút cùng ngày 25/02/2024, tại tại đầu ngõ vào nhà Cthôn P, xã B, Cơ quan điều tra phát hiện T3 đang đứng cùng Lê Văn T1, sinh năm 1993, trú tại thị trấn T, huyện V. Khi Cơ quan điều tra tiến hành tiếp cận thì T3 phóng xe bỏ chạy còn T1 bị giữ lại để kiểm tra. Cơ quan điều tra đã yêu cầu T1 về trụ sở Công an xã B để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, T1 tự nguyện giao nộp 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các tinh thể màu trắng, T1 khai nhận đó là túi ma túy đá mà T3 vừa đưa cho T1 nhờ T1 đưa cho khách mua ma túy của T3, T1 chưa kịp đưa. Cơ quan điều tra đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với T1 và thu giữ, tạm giữ của T1 những đồ vật gồm: 01 túi nilon màu trắng bên trong chứa các tinh thể màu trắng, T1 khai nhận đó là túi ma túy đá mà T3 vừa đưa cho T1 nhờ T1 đưa cho khách mua ma túy của T3. Vật chứng được niêm phong vào 01 phong bì giấy theo thủ tục pháp luật, ký hiệu A2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh đã cũ (không lắp sim) và 01 tờ tiền polime mệnh giá 200.000đ.

Căn cứ hành vi mua bán trái phép chất ma túy của TT1, ngày 26/02/2024 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Tthôn P, xã B, huyện V; khám xét khẩn cấp chỗ ở của T1 tại khu C, thị trấn T, huyện V. Quá trình khám xét, không phát hiện thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài sản gì.

Ngày 26/02/2024, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh V đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 440 trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh V giám định xác định khối lượng và loại ma túy trong mẫu vật ký hiệu A1 và A2 như nêu trên.

Ngày 01/3/2024, Phòng K - Công an tỉnh V có bản Kết luận giám định số 559/KLGĐ, kết luận:

Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu Al gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,6845g (Không phẩy sáu tám bốn năm gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

Tinh thể dạng đá màu trắng của mẫu ký hiệu A2 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,5581g (Không phẩy năm năm tám một gam, không kể bao bì) loại Methamphetamine.

Phòng K - Công an tỉnh V đã hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định của cơ quan trưng cầu, gồm: Mẫu A1 = 0,6251 gam và mẫu A2 = 0,5017 gam mẫu cùng bao gói được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật, trên giáp lai có chữ ký của người tham gia đóng gói, niêm phong và hình dấu của Phòng K - Công an tỉnh V.

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thông báo kết luận giám định cho T, T1 biết. Tuyến và T1 nhất trí, không có thắc mắc gì.

Về nguồn gốc ma túy T1 khai nhận: Khoảng 19 giờ ngày 23/02/2024, T1 có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave đã cũ gắn BKS: 88AB-741.13 của T1 đi từ nhà T1 đến nhà Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 ở thôn P, xã B tìm mua ma túy. Khi đến nơi, T1 gặp C, Bùi Văn T3, sinh năm 1973 là người thường xuyên ở nhà C, Bốc nhà ở thị trấn VH3 (T1 không biết họ tên đầy đủ, quê quán, nhân thân lai lịch của H3). Tại đây T1 hỏi và mua được của T3 300.000đ tiền ma túy đá. Sau đó, T1 sử dụng ma tuý luôn tại nhà C rồi tiếp tục ở nhà C, được C, T3 cho ăn uống, ngủ lại. Ngày 24/02/2024 T1 nhờ H3 đem chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone X màu trắng đã cũ của T1 đi cầm cố, khoảng 15 phút sau H3 đưa cho T1 số tiền 1.800.000đ là tiền H3 đi cầm cố chiếc điện thoại của T1. T1 dùng số tiền 300.000đ để trả tiền đã mua ma túy của T3 tối ngày 23/02/2024, còn lại 1.500.000đ T1 đã sử dụng để tiêu xài cá nhân hết. T1 tiếp tục ở tại nhà C đến tối ngày 25/02/2024 thì đã hỏi vay được tiền để chuộc lại điện thoại nên T1 đi tìm H3 để hỏi chỗ H3 đã cầm cố chiếc điện thoại của T1 nhưng không tìm thấy H3. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô của T1 đi tìm chiếc điện thoại của T1 đã nhờ H3 đi cầm cố trước đó nhưng không tìm được nên T1 đi quay lại nhà C. Khi đi đến ngã ba gần nhà C thì T1 gặp T3 đang đứng một mình ở đó, T1 dừng xe hỏi T3: “Có liên lạc được với H3 không?”, T3 trả lời: “Không”. Tại đây, T1 nói chuyện và biết T3 đang chờ khách mua ma tuý đến để giao ma tuý. Sau đó, T1 vay của T3 số tiền 200.000đ để tiêu xài cá nhân. T3 hỏi mượn xe mô tô của T1 để đi có việc và nhờ T1: “Đứng chờ để giao hàng cho khách”, T1 hiểu T3 nhờ T1 đứng chờ để giao hộ T3 ma túy cho khách nhưng do nể nang được T3C cho ăn ở tại nhà C nên T1 đồng ý cầm ma tuý, chờ khách để bán ma tuý giúp T3. Sau đó, T1 đưa xe mô tô của T1 cho T3 đi còn T3 đưa cho T1 01 túi ma túy đá. Cùng lúc này, lực lượng Công an đi đến chỗ T1T3 đang đứng. Quan sát thấy lực lượng Công an đến, T3 đã điều khiển xe mô tô của T1 bỏ chạy, T1 được đưa về trụ sở Công an xã B phối hợp làm việc và tự nguyện giao nộp túi ma tuý, chiếc điện thoại di động và số tiền 200.000đ như đã nêu trên.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu xám, số IMEI : 354444065269815 bên trong có lắp sim thuê bao số 0986.129.291 tạm giữ của Nguyễn Văn T, xác định: có 74 số điện thoại được lưu trong mục danh bạ điện thoại, T không lưu số điện thoại của Bùi Văn T3. Tại mục nhật ký cuộc gọi có tất cả 95 cuộc gọi đi, đến, nhỡ từ ngày 24/02/2024 đến 25/02/2024 (bao gồm các cuộc gọi Zalo, Facebook messenger) trong đó số điện thoại 0974.002.xxx là do người hỏi mua ma tuý liên lạc với T 10 lần trong ngày 25/02/2024 từ khoảng 16 giờ 16 phút đến 19 giờ 16 phút. Kiểm tra mục tin nhắn và ứng dụng Zalo không phát hiện nội dung nào liên quan đến hành vi phạm tội của T. Kiểm tra ứng dụng Facebook Messenger của T cài đặt trên máy có tên “Tiến Đạt” liên lạc với tài khoản “Bùi Tám” của Bùi Văn T3 trong ngày 25/02/2024 thấy có 3 cuộc gọi (1 cuộc gọi bị huỷ, 1 cuộc gọi đến 01 giây và 01 cuộc gọi đi 42 giây) lần lượt vào lúc 18:37, 18:39 và 18:39 Tuyến khai nhận là do T3 liên lạc cho T ma tuý và 01 cuộc gọi nhỡ lúc 21:09 cùng ngày. Ngoài ra, trong ứng dụng Facebook Messenger của T có cuộc hội thoại với tài khoản Bùi Tám của Bùi Văn T3 thể hiện có 46 cuộc gọi thoại giữa T3 với T và 32 tin nhắn nói chuyện giữa TT3 từ ngày 17/02/2024 đến tối ngày 25/02/2024, Cơ quan điều tra đã điều tra xác minh nhưng chưa đủ căn cứ xác định có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của TT3.

Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra chiếc điện thoại nhãn hiệu Radmi, vỏ màu xanh, số IMEI 1: 868926055024167, số IMEI 2: 868926055024175 L tự nguyện giao nộp (không lắp sim), xác định: Đây là chiếc điện thoại Thi mượn được của C để liên lạc với gia đình. Qua kiểm tra danh bạ điện thoại, nhật ký cuộc gọi hiển thị đến ngày 14/02/2024, hộp thư tin nhắn, ứng dụng Zalo và Facebook M được cài đặt trên máy không có nội dung liên quan đến hành vi phạm tội của Lê Văn T1.

Tại bản Cáo trạng số: 96/CT-VKSVT ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn TLê Văn T1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn TLê Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 02 năm 06 tháng tù đến 02 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 25/02/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 02 năm tù đến 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/02/2024).

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bùi Văn T3, Nguyễn Văn C quá trình điều tra, xét xử đã được triệu tập nhưng không có mặt tại địa phương, vắng mặt tại phiên tòa nên không có lời khai của T3C.

Người làm chứng ông Phùng Văn D vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2]. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn TLê Văn T1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Tường. Xét lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ được; phù hợp với kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở chứng cứ khách quan để kết luận: Hồi 19 giờ 30 phút ngày 25/02/2024, tại đoạn đường nội đồng thuộc thôn P, xã B, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh V phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu 0,6845 gam ma tuý loại Methamphetamin (ma tuý đá) trên người để đem đi bán kiếm lời. Về nguồn gốc số ma tuý, T khai nhận là được Bùi Văn T3, sinh năm 1973, là người thường xuyên sinh sống tại nhà Nguyễn Văn C, sinh năm 1970 ở thôn P, xã B cho sử dụng nhưng T chưa sử dụng thì có người hỏi mua nên T đồng ý bán lấy tiều tiêu xài cá nhân. Thu giữ vật chứng gồm: 01 túi ma tuý đá, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone (đã cũ) bên trong lắp 01 sim thuê bao 0986.129.291 và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream, gắn biển kiểm soát 88L1-129.29.

Quá trình xác minh, triệu tập đối tượng Bùi Văn T3, tại đầu ngõ vào nhà C, Cơ quan điều tra phát hiện Lê Văn T1 đang có hành vi tàng trữ trái phép 0,5581 gam ma tuý loại Methamphetamin (ma tuý đá) nhằm mục đích để bán kiếm lời giúp Bùi Văn T3. Vật chứng thu giữ, tạm giữ gồm: 01 túi ma tuý đá, 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh (đã cũ) không lắp sim và số tiền 200.000đ.

[3]. Hành vi của Nguyễn Văn TLê Văn T1 tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamin (ma tuý đá) đều nhằm mục đích bán kiếm lời (trong đó T tàng trữ 0,6845 gam; T1 tàng trữ 0,5581 gam) nên đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự

Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm."

[4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây tác hại lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người và là nguyên nhân dẫn đến các loại tội phạm nguy hiểm khác. Vì vậy, cần phải xử phạt các bị cáo mức hình phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội do các bị cáo đã thực hiện.

[5]. Xét nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo thấy rằng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T1 có ông nội là ông Lê Văn L được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang, huân chương kháng chiến hạng 3 nên bị cáo T1 được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử có thể xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo nhưng nhất thiết phải áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo để các bị cáo có thời gian cải tạo thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản và đang bị tạm giam. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Dream đã cũ gắn biển kiểm soát 88L1-129.29, quá trình điều tra xác định chiếc xe này là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Văn V, sinh năm 2001, trú tại: Thôn P, xã B, huyện V (là em trai ruột của Nguyễn Văn T). Vào buổi chiều ngày 25/02/2024, T mượn chiếc xe trên của anh V để đi giải quyết việc cá nhân, anh V hoàn toàn không biết và không liên quan gì việc T sử dụng chiếc xe trên để vi phạm pháp luật. Do vậy, ngày 15/4/2024, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trả lại chiếc xe trên cho anh V theo quy định pháp luật, nhận lại tài sản, anh V không có yêu cầu, đề nghị gì.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 vỏ màu xám, đã cũ, bên trong lắp sim thuê bao 0986.129.291, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của T, T đã sử dụng để liên hệ, trao đổi bán ma túy vào ngày 25/02/2024 nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với chiếc điện thoại và tịch thu tiêu hủy đối với chiếc sim thuê bao trên do không còn giá trị sử dụng.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi vỏ màu xanh đã cũ, quá trình điều tra T1 khai nhận đó là tài sản của Nguyễn Văn C cho T1 mượn. Cơ quan điều tra đã triệu tập C nhiều lần nhưng đến nay vẫn chưa làm việc được. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ chiếc điện thoại trên, khi nào triệu tập làm việc được với C thì sẽ xử lý theo quy định.

Đối với số tiền 200.000đ thu giữ của T1, quá trình điều tra T1 khai nhận đó là tiền của T1 do T1 vay được của Bùi Văn T3 để tiêu xài cá nhân, T1 không sử dụng liên quan đến hành vi vi phạm pháp luật nên cần trả lại cho T1 nhưng tiếp tục tạm giữ đảm bảo thi hành án.

Đối với mẫu vật còn lại và toàn bộ bao gói do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

[8]. Về các vấn đề khác:

Đối với Bùi Văn T3: Quá trình điều tra bị cáo T khai nhận về nguồn gốc ma túy thu giữ khi bắt quả tang là do được Bùi Văn T3 cho tại nhà C và nguồn gốc ma túy T1 giao nộp cho Cơ quan điều tra là của Bùi Văn T3 nhờ T1 cầm để đợi giao cho khách mua ma túy hộ T3. Qúa trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, triệu tập T3 nhiều lần tại xã B, huyện V và tại xã M, huyện M, tỉnh Điện Biên đồng thời đã ra Thông báo truy tìm số 555 ngày 05/4/2024 đối với Bùi Văn T3. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa triệu tập, làm việc được với T3. Ngoài lời khai của T, T1 về nguồn gốc túi ma tuý bị Cơ quan điều tra thu giữ là của T3 thì không có ai biết việc này. Tại phiên tòa, bị cáo TT1 vẫn khẳng định T3 là người đã cho T để sử dụng nhưng khi có người hỏi mua thì T bán kiếm lời; còn bị cáo T1 được Bùi Văn T3 nhờ cầm hộ ma túy để đợi gặp khách thì giao bán. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của Bùi Văn T3 có dấu hiệu của tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ có hay không có hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Bùi Văn T3 để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Văn C: Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn C là người cho T3 ở nhờ sau đó tại nhà C, T3 có hành vi cho T ma tuý để sử dụng (theo lời khai của T); đồng thời, tại nhà C, T3 còn bán ma tuý cho T1 sử dụng và C đồng ý cho T1 sử dụng trái phép chất ma tuý tại nhà C (theo lời khai của T1). Ngoài lời khai của T, của T1 về C thì các bị cáo xác định không có tài liệu chứng cứ gì chứng minh lời khai của T, T1 về C là đúng. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập nhiều lần và đã ra thông báo truy tìm, tuy nhiên nhà C cửa cổng luôn đóng khoá, gọi không có người trả lời, Cơ quan điều tra chưa làm việc được với C. Hội đồng xét xử xét thấy, hành vi của Nguyễn Văn C có dấu hiệu của tội phạm liên quan đến ma túy. Vì vậy, Hội đồng xét xử kiến nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ có hay không có hành vi phạm tội về ma túy của Nguyễn Văn C để xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với người đàn ông tên là H3 (không rõ lai lịch) và B1 (người ở thị trấn V) là các đối tượng có mặt tại nhà C biết việc mua bán trái phép chất ma tuý của T3 (theo lời khai của T, T1). Quá trình điều tra chưa xác minh làm rõ được nhân thân, lai lịch của B1H3 là ai, ở đâu. Do vậy, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh, khi có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.

Đối với người đàn ông sử dụng số thuê bao 0974.002.611 để liên hệ hỏi mua ma túy của Nguyễn Văn T chiều ngày 25/02/2024. Ngày 27/3/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã ra yêu cầu số 483 đề nghị Tập đoàn C1 (V1) cung cấp danh sách cuộc gọi, tin nhắn, chủ thuê bao, vị trí thu phát sóng của số thuê bao 0974.002.611. Kết quả tra cứu xác định: Chủ số thuê bao trên là Mạc Cao T4, sinh năm 1990, đăng ký hộ khẩu thường trú tại: Thôn N, xã Y, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; thuê bao này có liên lạc với số thuê bao 0986.129.291 mà T sử dụng 08 lần trong ngày 25/02/204 từ khoảng 16 giờ 16 phút đến 19 giờ 16 phút, vị trí ở các xã T, thành phố V; xã T, huyện B và xã Đ, huyện Y. Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập T4 nhiều lần nhưng vẫn chưa làm việc được. Cơ quan điều tra cần tiếp tục triệu tập, khi làm việc được sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với việc T khai nhận do biết T3 có ma tuý bán nên khi có khách hỏi thì T đến gặp T3 lấy ma tuý đem đi bán rồi trả tiền cho T3 và thỉnh thoảng được T3 cho ma tuý sử dụng. Quá trình điều tra, T không nhớ được từng lần lấy ma tuý của T3 đem đi bán là những ngày nào, bán cho ai, ở đâu; quá trình điều tra Cơ quan điều tra chưa triệu tập, làm việc được với T3 nên chưa có căn cứ để xử lý theo quy định.

Đối với việc T1 khai nhận đã có khoảng 4 lần mua ma tuý của T3 và đều sử dụng ma tuý mua của T3 tại gian phòng bếp nhà C. Quá trình điều tra, T1 không nhớ được từng lần lấy ma tuý của T3 rồi sử dụng ở nhà C là những ngày nào, việc mua bán và sử dụng ma tuý như T1 khai chỉ có T3, C, H3, B1 biết nhưng quá trình điều tra chưa làm việc được với các đối tượng liên quan trên nên chưa có căn cứ để xử lý theo quy định. Quá trình điều tra, T1 không đề nghị gì về chiếc điện thoại đã nhờ H3 đem đi cầm cố và chiếc xe mô tô biển kiểm soát 88AB-741.13 đã cho T3 mượn vào đêm ngày 25/02/2024 nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết trong vụ án này.

[9]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn TLê Văn T1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 25/02/2024).

Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn T1 02 năm 02 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ (ngày 26/02/2024).

Về các vấn đề khác: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tịch thu bán phát mại sung công quỹ Nhà nước 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple loại Iphone 6 vỏ màu xám, đã cũ.

Tịch thu tiêu hủy 01 sim thuê bao 0986.129.291.

Trả lại cho Lê Văn T1 số tiền 200.000đ nhưng cần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Tịch thu tiêu hủy mẫu vật còn lại sau giám định: Mẫu A1= 0,6251 gam và A2= 0,5017 gam (ma túy methamphetamine) và toàn bộ bao gói niêm phong do Cơ quan giám định hoàn trả sau giám định.

(Toàn bộ vật chứng tịch thu tiêu hủy của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 23/8/2024 giữa Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Tường).

Các bị cáo Nguyễn Văn TLê Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm các bị cáo có mặt quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Người người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Vĩnh Tường;
  • - CA huyện Vĩnh Tường;
  • - THADS huyện Vĩnh Tường;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
  • - Lưu HS + VP;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

(đã ký)

Lương Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyen Van T cùng đồng phạm phạm tội 'Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger