1
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2023/HSST
Ngày: 19 - 12 - 2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Quân
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Hà
2. Ông Quách Hà Vính
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm- Thư ký Toà án, Tòa án nhân dân
huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạch Thành tham gia phiên toà:
Ông Vũ Minh Tuệ - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 108/2023/TLST-HS, ngày 21 tháng 11 năm 2023. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2023/QĐXX-ST, ngày 04 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Bùi Văn D; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày 27/9/1997 tại: xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Công giáo; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố: Bùi Văn Đ- Đã chết; Mẹ: Bùi Thị L; Vợ: Phan Thị T; có 01 con gái sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù giam về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo bản án số 73/2018/HSST ngày 29/11/2018. Đến ngày 14/5/2020 Bùi Văn D chấp hành xong bản án trên; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/9/2023 cho đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 09 giờ ngày 10/9/2023, do bản thân là người nghiện chất ma tuý, nên Bùi Văn D (Sinh năm 1997, trú tại thôn Đ, xã V, huyện V) một mình bắt xe máy của một người không quen biết đi sang huyện N, tỉnh Ninh Bình để tìm
2
mua ma tuý. Khi D đi đến đoạn đường vắng thuộc huyện N (D không biết cụ thể thuộc địa phận thôn, xã nào mà chỉ biết nơi này thuộc huyện N, Ninh Bình) gặp một người đàn ông (không rõ tên tuổi, địa chỉ) có biểu hiện giống người nghiện chất ma tuý. Qua trao đổi nói chuyện Bùi Văn D mua được của người đàn ông này 01 (một) gói ma tuý với giá 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, D quay trở về huyện T. Trên đường đi trở về, đến một một đoạn đường vắng vẻ, D mang gói ma túy vừa mua được ra để sử dụng một phần bằng cách chích. Sau khi sử dụng, D gói số ma túy còn lại vào lớp giấy bạc rồi cất vào trong người và đi về nhà mẹ đẻ. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi D đang ở nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã T thì nhận được điện thoại của Bùi Văn B (sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện T) gọi đến và có hỏi D là “Có ma túy không bán cho tao một ít”. D tắt máy và suy nghĩ một lúc thì đồng ý bán số ma túy đang cất dấu trên người cho B. D gọi lại cho B và nói “Có”, rồi B hỏi D “đang ở đâu”, D trả lời là “đang ở nhà mẹ”. Sau đó B đến gặp D tại cổng nhà. D bán cho B 01 gói ma túy và nhận về số tiền 190.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì B đi đâu D không rõ còn D đi vào trong nhà. D ở lại nhà mẹ đẻ đến khoảng 13 giờ thì đi về nhà ở của mình. Đến khoảng 21 giờ ngày 10/9/2023 D suy nghĩ và nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an huyện T tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân để nhận được sự khoan hồng của pháp luật.
Cơ quan CSĐT đã tiến hành triệu tập và lấy lời khai của Bùi Văn B là người mua ma tuý của Bùi Văn D. Bùi Văn B khai nhận bản thân là người nghiện chất ma tuý, có nhu cầu sử dụng ma tuý nên vào khoảng 11 giờ ngày 10/9/2023 B đã mua ma tuý của Bùi Văn D với số tiền 190.000đ (Một trăm chín mươi nghìn đồng). Sau khi mua ma tuý, Bùi Văn B khai nhận mang về nhà sử dụng hết. Kiểm tra máy điện thoại của B ghi nhận có số điện thoại của D, cả hai có liên lạc với nhau để mua ma túy. Lời khai mà cơ quan CSĐT thu thập được Bùi Văn B phù hợp với tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D: Quá trình làm việc thì Bùi Văn D khai nhận do người bán ma tuý giấu mặt, đeo khẩu trang kín mặt và là lần đầu gặp, nên Bùi Văn D không cung cấp được đặc điểm, nhân thân, địa chỉ của người này. Vấn đề này Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ. Về địa điểm Bùi Văn D mua ma túy ở thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Bùi Văn D khai nhận do không thông thuộc địa hình, nhiều địa điểm giống nhau, nên không xác định được địa điểm cụ thể, Cơ quan CSĐT không đủ tài liệu, chứng cứ để tiến hành xác định lại hiện trường.
Kết quả xác minh về tài sản, thu nhập, xác định hiện tại bị cáo Bùi Văn D không có tài sản và thu nhập.
Đối với Bùi Văn B là người mua ma túy của Bùi Văn D vào ngày 10/9/2023 để sử
3
dụng. Căn cứ biên bản ghi lời khai, Phiếu xác định tình trạng nghiện ma túy của Bùi Văn B và các tài liệu thu thập được. Xác định Bùi Văn B đã vi phạm quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình. Ngày 22/9/2023 Công an huyện T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Bùi Văn B 1.750.000đ (Một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 0010495/QĐ – XPHC là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã thu giữ: Thu giữ của Bùi Văn D 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A57, màu trắng, đã bị vỡ màn hình một phần, bên trong chứa thẻ sim số thuê bao 0384.170.504, số IMEI 1: 867132030767316, IMEI 2: 867132030767308, tình trạng đã qua sử dụng. Vật chứng nêu trên đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 108/CT-VKSTT, ngày 21/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân (sau đây viết tắt là VKSND) huyện T, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố Bùi Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự (sau đây viết tắt là BLHS).
* Phần tranh tụng tại phiên tòa:
- - Tại phiên toà, đại diện VKSND giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s, r khoản 1 Điều 51; Điều 38 BLHS; xử phạt Bùi Văn D từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 10/09/2023).
- Kết quả xác minh về tài sản thu nhập, xác định hiện tại bị cáo không có tài sản và thu nhập nên đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự (sau đây viết tắt là BLTTHS): Tịch thu 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A57, màu trắng, đã bị vỡ màn hình một phần, bên trong chứa thẻ sim số thuê bao 0384.170.504, số IMEI 1: 867132030767316, IMEI 2: 867132030767308, tình trạng đã qua sử dụng
- Đề nghị truy thu bị cáo 190.000 đồng là tiền bán ma túy cho B
- - Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi bán ma túy cho Bùi Văn B (sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện T) tại nhà của mẹ bị cáo một gói ma tuý với giá 190.000 đồng loại ma túy là Hê rô in. Bị cáo nhận thức được hành vi bán ma túy cho tối tượng nghiện ma tuý là sai, nhưng bị cáo cần tiền để tiếp tục sử dụng ma túy nên bị cáo đã thực hiện hành vi bán ma tuý. Bị cáo thấy ân hận về hành vi của mình nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
- Phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS. Lời nói sau cùng bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội: Căn cứ lời khai của bị cáo và người liên quan HĐXX có đủ cơ sở chứng minh khoảng 11 giờ ngày 10/09/2023, khi D đang ở nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã T thì nhận được điện thoại của Bùi Văn B (sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện T) gọi đến và có hỏi D là “Có ma túy không bán cho tao một ít”. D tắt máy và suy nghĩ một lúc thì đồng ý bán số ma túy đang cất dấu trên người cho B. D gọi lại cho B và nói “Có”, rồi B hỏi D “đang ở đâu”, D trả lời là “đang ở nhà mẹ”. Sau đó B đến gặp D tại cổng nhà. D bán cho B 01 gói ma túy và nhận về số tiền 190.000 đồng. Sau khi mua được ma túy thì B đi đâu D không rõ còn D đi vào trong nhà. Đến khoảng 21 giờ ngày 10/9/2023 D suy nghĩ và nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đã đến Công an huyện T tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân để nhận được sự khoan hồng của pháp luật. Vì vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 BLHS. Viện kiểm sát nhân dân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng. Đại diện VKS đề nghị cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Tự thú” sau khi đã thực hiện hành vi phạm tội, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cái theo điểm s, r khoản 1 Điều 51 BLHS giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Tuy nhiên, hành vi bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an và an toàn xã hội trên địa bàn, làm ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi, mà còn là tiền đề và điều kiện phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác trong xã hội. Do đó, HĐXX xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích và phòng ngừa cảnh tỉnh những người khác định bước chân vào con đường phạm tội.
[4]. Về nguồn gốc số ma túy: Quá trình làm việc thì Bùi Văn D khai nhận do người bán ma tuý giấu mặt, đeo khẩu trang kín mặt và là lần đầu gặp, nên Bùi Văn D không cung cấp được đặc điểm, nhân thân, địa chỉ của người này. Vấn đề này Cơ quan CSĐT sẽ tiếp tục xác minh, xử lý khi có đủ căn cứ. Về địa điểm Bùi Văn D mua
5
ma túy ở thị trấn N, huyện N, tỉnh Ninh Bình, Bùi Văn D khai nhận do không thông thuộc địa hình, nhiều địa điểm giống nhau, nên không xác định được địa điểm cụ thể, Cơ quan CSĐT không đủ tài liệu, chứng cứ để tiến hành xác định lại hiện trường.
[5]. Về hình phạt tiền bổ sung: Quá trình điều tra, xác minh điều kiện tài sản hiện tại của bị cáo xác định bị cáo không có tài sản, thu nhập, nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
[6]. Về vật chứng: 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhăn hiệu OPPO A57, màu trắng, đã bị vỡ màn hình một phần, bên trong chứa thẻ sim số thuê bao 0384.170.504, số IMEI 1: 867132030767316, IMEI 2: 867132030767308 thu của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7]. Đối với số tiền 190.000 đồng (một trăm chín mươi nghìn đồng) là tiền bị cáo bán ma túy cho B, bị cáo đã sử dụng hết số tiền này nên cần truy thu của bị cáo để sung quỹ nhà nước.
[8]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn D 30 (ba mươi) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (Ngày 10/09/2023).
Áp dụng: khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS; Điều 136 BLTTHS; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
- - Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động loại màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO A57, màu trắng, đã bị vỡ màn hình một phần, bên trong chứa thẻ sim số thuê bao 0384.170.504, số IMEI 1: 867132030767316, IMEI 2: 867132030767308 thu của bị cáo liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Truy thu bị cáo Bùi Văn D số tiền 190.000 đồng (một trăm chín mươi nghìn) để sung quỹ nhà nước.
- - Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
6
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Văn Quân |
Bản án số 105/2023/HSST ngày 19/12/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 105/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
