Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/4/2024

“V/v Tranh chấp thay đổi người trực

tiếp nuôi con sau ly hôn”.


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG


Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:bà Nguyễn Thị Bích và ông Đỗ Văn Long.

- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hồng Vân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: bà Hà Thị Hải - Kiểm sát viên trung cấp.


Ngày 19/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLST-HNGĐ ngày 23/01/2024 về “Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 18/3/2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: chị Trần Thị Thu H, sinh năm: 1992 (vắng mặt)

Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

* Bị đơn: anh Mai Văn Đ, sinh năm: 1991 (vắng mặt)

Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố Q, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Hiện đang lao động ở nước ngoài.

+Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Phan Thị T, sinh năm: 1969 (vắng mặt)

Địa chỉ: xóm T, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định.


NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình làm việc tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trần Thị Thu H trình bày:

Chị và anh Mai Văn Đ kết hôn với nhau từ năm 2011; trong thời gian chung sống với nhau hạnh phúc thì anh chị đã có với nhau 2 người con chung là cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 và cháu Mai Khánh T1, sinh ngày 10/01/2016. Đến năm 2022 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không tìm được tiếng nói chung, không còn tình cảm với nhau, sống ly thân với nhau và đã làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang giải quyết cho ly hôn, giải quyết vấn đề con chung. Tại bản án số 108/2023/HNGĐ-ST ngày 22/5/2023 Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã giải quyết cho anh chị được ly hôn nhau đồng thời giao cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 cho anh Mai Văn Đ trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng con chung đến khi trưởng thành. Giao cháu Mai Khánh T1, sinh ngày 10/01/2016 cho chị được chăm sóc nuôi dưỡng để khi trưởng thành. Tại thời điểm giải quyết ly hôn thì do anh chị đều ở nước ngoài nên có thống nhất nhờ ông Mai Văn T2, bà Phan Thị T là ông bà nội trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục cháu Mai Hoàng S và cháu Mai Khánh T1 trong thời gian anh chị ở nước ngoài.

Tuy nhiên, đến nay chị đã về nước và không đi lao động ở nước ngoài nữa và chị có đến đón cháu Mai Khánh T1, sinh ngày 10/01/2016 về chăm sóc nuôi dưỡng, còn cháu Mai Hoàng S sinh ngày 09/12/2012 vẫn đang sống cùng với ông bà nội là ông Mai Văn T2, bà Phan Thị T ở xóm T, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định.

Sau khi chị đón cháu Mai Khánh T1 về chăm sóc nuôi dưỡng thì cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 không muốn ở với ông bà nội nữa và liên tục đòi được về ở với mẹ và em. Chị có nói chuyện với ông Mai văn T3, bà Phan Thị T đề nghị cho chị được nuôi dưỡng đến khi nào anh Đ về thì chị sẽ giao cháu S cho anh Đ nhưng ông bà không đồng ý. Đến nay, ông Mai văn T3, bà Phan Thị T có ý kiến nếu tôi muốn đón con đi thì phải có quyết định của Tòa án và được sự đồng ý của anh M văn Đ thì ông bà mới giao cháu cho chị. Chị đã gọi điện thoại cho anh Mai Văn Đ đề nghị cho chị nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 vì hiện nay cháu cũng rất cần sự quan tâm chăm sóc của mẹ tuy nhiên, qua điện thoại anh Đ không đồng ý. Đến nay, được sự đồng ý của anh Mai Văn Đ và ông bà nội là ông Mai Văn T2 và bà Phan Thị T thì chị đã làm thủ tục chuyển trường cho cháu Mai Hoàng S về Bắc Giang sinh sống và học tập tại thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Nay chị đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xem xét giải quyết thay đổi quyền nuôi dưỡng con chung giao cháu Mai Hoàng S cho chị nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con chị không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng nuôi con.

2

Do tính chất công việc nên chị đề nghị cho chị được vắng mặt trong các phiên tòa xét xử vụ án giữa chị và anh Đ. Chị vẫn giữ nguyên các quan điểm đã trình bày.

Bị đơn anh Mai Văn Đ không có bản tự khai.

Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã ủy thác lấy lời khai cho Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tiến hành làm việc với mẹ đẻ của anh Mai Văn Đ là bà Phan Thị T, sinh năm 1969, trú tại: xóm T, xã B, huyện G, tỉnh Nam Định để giao thông báo thụ lý vụ án và yêu cầu bà T thông báo cho anh Đ biết về việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn giữa chị Trần Thị Thu H và anh Mai Văn Đ; yêu cầu anh Đ viết bản tự khai, lời khai về cho Tòa án; yêu cầu bà T cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Đ ở nước ngoài. Tuy nhiên, qua làm việc bà T vẫn giữ nguyên quan điểm là anh Đ ở nước ngoài vẫn thường xuyên liên lạc về cho gia đình nhưng bà không cung cấp địa chỉ cụ thể của anh Đ ở nước ngoài cho Tòa án, bà đồng ý thực hiện theo yêu cầu của Tòa án thông báo cho anh Đ biết để anh Đ gửi lời khai về. Kể từ đó đến nay, Tòa án cũng không nhận được bất kỳ lời khai nào của anh Đ gửi về.

+ Tại biên bản làm việc bà T trình bày: sau khi anh Đ và chị H ly hôn thì Tòa án giao cháu Mai Hoàng S cho anh Đ nuôi dưỡng. Kể từ khi chị H về nước thì khoảng giữa tháng 2/2024 cháu S đã về ở với chị H. Nay chị H có yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn thì quan điểm của anh Đ và gia đình vẫn có nguyện vọng nuôi cháu S, tuy nhiên khi cháu S muốn ở với mẹ thì gia đình bà và anh Đ nhất trí thuận theo ý kiến của cháu S.

+ Tại biên bản lấy lời khai cháu Mai Hoàng S trình bày: cháu là con của bố Mai Văn Đ và mẹ Trần Thị Thu H, trước đây bố mẹ cháu ly hôn thì cháu có nguyện vọng được ở với bố Mai Văn Đ, nay mẹ cháu đã về nước và cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và cháu đã đã chuyển trường cho cháu từ xã B, huyện G, tỉnh Nam Định về học tại thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.

Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Mai Văn Đ và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T vắng mặt không có lý do.

Thay mặt Hội đồng xét xử thông qua đơn khởi kiện, bản tự khai của chị H, bà T và biên bản lấy lời khai của cháu Mai Hoàng S và thông qua tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:

-Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm

3

Hội đồng xét xử vào nghị án

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình được quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự; bị đơn anh Mai Văn Đ không có địa chỉ cụ thể ở nước ngoài Tòa án đã niêm yết đầy đủ các văn bản tố tụng đối với anh Đ. Căn cứ vào Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao xử vắng mặt anh Đ là đúng.

-Về nội dung: đề nghị HĐXX áp dụng Điều 81, 82, 83, 84, Điều 104 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTBVQH14 ngày 30/12/2016 Nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn của chị Trần Thị Thu H, giao cho chị Trần Thị Thu H được nuôi dưỡng cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012, bởi lẽ hiện nay anh Mai Văn Đ đang ở nước ngoài, chị H có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu. Về cấp dưỡng nuôi con chung, do chị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Về án phí: Chị H nhận chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, nên cần ghi nhận sự tự nguyện của chị H. Xác nhận chị H đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm.


NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được công bố tại phiên toà. Sau khi nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, thảo luận và nghị án. Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Trần Thị Thu H là người Việt Nam, hiện đang sống và làm việc tại Việt Nam có đơn xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn đối với anh Mai Văn Đ. Bị đơn anh Mai Văn Đ là người Việt Nam có hộ khẩu thường trú tại thôn T, thị trấn T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang nhưng đang cư trú tại nước ngoài không rõ địa chỉ. Căn cứ công văn số 1967/QLXNC-P3 ngày 25/01/2024 của Cục Q-Bộ C thì anh Mai Văn Đ đã xuất cảnh ngày 01/12/2020 hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Như vậy, đây là vụ án tranh chấp có đương sự ở nước ngoài nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

4

[2]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa nguyên đơn chị Trần Thị Thu H có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Mai Văn Đ, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phan Thị T đã được tống đạt hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do vậy, căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị H, anh Đ, bà T.

[3]. Về nội dung đơn khởi kiện về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn của chị Trần Thị Thu H. HĐXX thấy :

Tại Bản án số 108/2023/QĐST-HNGĐ ngày 22/5/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã quyết định; về con chung: giao con chung Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 cho anh Mai Văn Đ nuôi dưỡng, giao cháu Mai Khánh T1, sinh ngày 10/01/2016 cho chị H nuôi dưỡng. Tại thời điểm ly hôn thì anh Đ và chị H đang lao động tại nước ngoài nên anh chị thống nhất nhờ ông Mai Văn T2 và bà Phan Thị T là ông bà nội trông nom chăm sóc nuôi dưỡng cháu Mai Hoàng S và Mai Khánh T1 trong thời gian anh chị ở nước ngoài.

Tuy nhiên, đến nay chị H đã về nước không làm việc ở nước ngoài nữa và chị H đã đón cháu Mai Khánh T1 về chăm sóc, còn cháu S vẫn ở với ông bà nội, nay chị H có nguyện vọng được nuôi dưỡng, chăm sóc cháu Mai Hoàng S và cháu Mai Hoàng S cũng có nguyện vọng được ở với mẹ. Như vậy, anh Mai Văn Đ đang ở nước ngoài không đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Chị H có đầy đủ điều kiện về công việc, thu nhập, nơi ở ổn định để chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Mai Hoàng S, cháu S cũng có nguyện vọng được về ở cùng mẹ và em là cháu Mai Khánh T1. Để đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, đảm bảo sự phát triển ổn định tâm lý cũng như việc sinh hoạt, học tập của con chung. Do đó yêu cầu xin thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn của chị Trần Thị Thu H là có căn cứ, phù hợp quy định tại khoản 1 Điều 71, Điều 81; Điều 84 Luật hôn nhân gia đình nên cần được chấp nhận. Giao con chung là cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con chung anh Đ không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con do chị Trần Thị Thu H không yêu cầu. HĐXX không xem xét giải quyết.

Sau khi thay đổi người trực tiếp nuôi con, anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp anh Mai Văn Đ về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, các đương sự có quyền khởi

5

kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

[4]. Về án phí: do yêu cầu của chị Trần Thị Thu H được chấp nhận nên anh Đ phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Tuy nhiên, nguyên đơn là chị H tự nguyện nhận chịu cả số tiền án phí dân sự sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp xong số tiền 300.000 đồng tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.

[5]. Về quyền kháng cáo: các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 104 và khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 3 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37; khoản 1 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; điểm b khoản 1 Điều 238; Điều 271; Điều 273; khoản 2 Điều 479 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Thu H.

Giao con chung là cháu Mai Hoàng S, sinh ngày 09/12/2012 cho chị Trần Thị Thu H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Anh Mai Văn Đ không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Trần Thị Thu H không yêu cầu.

Sau khi thay đổi người trực tiếp nuôi con, anh Đ có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Đ thực hiện quyền này theo quy định tại Điều 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp anh Đ về nước sinh sống, có nguyện vọng nuôi con chung hoặc vì quyền lợi chính đáng của con chung, anh Đ có quyền khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn bằng vụ án khác theo quy định tại Điều 84 Luật hôn nhân gia đình.

2.Về án phí: chị Trần Thị Thu H tự nguyện nhận chịu cả 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm, xác nhận chị H đã nộp đủ số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0001012 ngày 23/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Chị H đã thi hành xong án phí dân sự sơ thẩm.

3.Về quyền kháng cáo bản án:

Nguyên đơn là chị Trần Thị Thu H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15

6

ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Anh Mai Văn Đ hiện đang cư trú ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 01 tháng (30 ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tổ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Hà




THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN -CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Thị Hà

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn

  • Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: * Nguyên đơn: chị Trần Thị Thu Hà, sinh năm: 1992 (vắng mặt) Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố Quán Trắng, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. * Bị đơn: anh Mai Văn Đại, sinh năm: 1991 (vắng mặt) Nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố Quán Trắng, thị trấn Tân An, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Hiện đang lao động ở nước ngoài.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger