|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG TỈNH TUYÊN QUANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2024/HS-ST Ngày: 18/9/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Minh Khánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Hữu Lượng
- Ông Ma Quốc Thể
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Sơn Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18/9/2024, tại điểm cầu trụ sở Toà án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang và điểm cầu thành phần phòng xét xử Trại tạm giam Công an tỉnh T, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 100/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2024/QĐXXST-HS, ngày 04 tháng 9 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Văn S
Bùi Văn S, sinh ngày 27/02/1965 tại huyện S, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/10; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Đức V và con bà Chu Thị L (đều đã chết); vợ: Bùi Thị Kim V1, sinh năm 1971; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 1997; A, chị, em ruột: Có 04 người, bị cáo là con thứ ba; Tiền sự: Không.
* Tiền án, tiền sự: Không.
* Nhân thân:
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 38 ngày 27/8/2003 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 12 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, án phí HSST 50.000đ. Ngày 04/4/2004 chấp hành xong toàn bộ Bản án;
+ Bản án hình sự sơ thẩm số 29 ngày 24/3/2015 của Tòa án nhân dân huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang xử phạt 02 năm 03 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, án phí HSST 200.000đ. Ngày 13/01/2017 chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị Kim V1, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S, tỉnh Tuyên Quang. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn S là người nghiện ma túy đang điều trị cai nghiện ma túy bằng hình thức uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện S. Quá trình điều trị cai nghiện ma túy, do liều lượng M được cấp uống tại Trung tâm y tế huyện S không đủ theo nhu cầu của S. Khoảng tháng 12/2020, S một mình điều khiển xe khách đến khu vực xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mua Methadone về sử dụng. S gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 2.000.000đ được một chai nhựa màu trắng, loại chai 1000ml, trên thân chai có in chữ và số, bên trong chai có chất lỏng màu đỏ giống Methadone S1 thường được uống tại Trung tâm y tế huyện S. Sau đó, S1 cất giấu chai nhựa chứa Methadone ở tủ gỗ trên tầng hai (phía sau nhà) để sử dụng dần cho bản thân và bán lại cho người nghiện khác kiếm lời.
Ngày 07/4/2024 và 08/4/2024 Bùi Văn S đã hai lần bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đức V2, sinh năm 1972, trú tại tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S cùng là người nghiện ma túy đang cai nghiện bằng hình thức uống Methadone tại Trung tâm y tế huyện S.
Lần 1: Khoảng 18 giờ ngày 07/4/2024, Viện đến nhà S hỏi mua 300.000₫ M để uống. S đồng ý và lấy chai nhựa chứa Methadone rót một ít M (không xác định chính xác cụ thể là bao nhiêu ml) vào lọ nhựa nhỏ để bán cho Viện. Trong lúc S cầm chai nhựa Methadone lên tầng hai cất vào vị trí cũ, thì V2 cầm lọ M vừa mua được uống trực tiếp hết số dung dịch Methadone vào cơ thể và bỏ vỏ nhựa vào thùng rác của nhà S rồi đi về nhà.
Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 08/4/2024, Viện tiếp tục đến nhà S hỏi mua 500.000₫ M. Do quên tiền nên V2 quay về nhà lấy tiền. Sỹ đợi lâu không thấy Viện đến, nên S lấy chai nhựa chứa Methadone rót một ít Methadone vào 01 lọ thủy tinh nhỏ màu nâu rồi cầm theo người đi bộ đến đoạn đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, huyện S thì gặp Viện. S đưa cho Viện 01 lọ thủy tinh nhỏ màu nâu bên trong chứa Methadone. Viện đưa cho S 400.000đ và nợ 100.000đ. Viện cầm lọ M vừa mua được về nhà sử dụng hết bằng hình thức uống trực tiếp vào cơ thể. Sau khi bán Methadone cho Viện xong, S về nhà lấy chai nhựa chứa Methadone rót một ít Methadone vào 01 chai thủy tinh nhỏ màu trắng trong suốt, dùng nắp cao su màu xám đậy lại và dùng dây cao su màu đen và màu vàng buộc giữ nắp lọ để tại bàn uống nước ở phòng khách, rồi cất giấu chai nhựa chứa M vào tủ gỗ ở tầng hai. Số tiền có được từ 02 lần bán M cho Viện, S đã chi tiêu cá nhân hết.
Hồi 18 giờ ngày 09/4/2024 sau khi nhận được tin báo về tội phạm. Tổ công tác của Công an thị trấn S đến nhà S kiểm tra, phát hiện 01 chai thủy tinh nhỏ màu trắng trong suốt đậy bằng nắp cao su màu xám, có dây cao su màu đen và màu vàng buộc giữ nắp để tại bàn uống nước ở phòng khách. Sau đó chuyển nguồn tin báo về tội phạm đến Cơ quan CSĐT Công an huyện S.
Hồi 21 giờ 30 phút ngày 09/4/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện S tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở, nơi làm việc của Bùi Văn S tại tổ dân phố T. Phát hiện, thu giữ 01 chai nhựa màu trắng có in chữ và số trên thân chai, nắp chai màu trắng, bên trong chứa chất lỏng màu đỏ để tại tủ gỗ để đồ tầng hai phía sau nhà và số tiền 5.000.000đ để trong ngăn tủ gỗ ở phòng khách tầng một.
S khai nhận 01 chai nhựa màu trắng và 01 chai thủy tinh nhỏ màu trắng trong suốt bên trong đều chứa chất lỏng màu đỏ là ma túy M, S tàng trữ để bán cho người nghiện khác kiếm lời.
Kết quả xét nghiệm tìm chất ma túy ngày 09/4/2024: Bùi Văn S, Hoàng Đức V2, kết quả đều (+) dương tính với ma túy. S và V2 khai nhận ngày 05/4/2024 đã mua và sử dụng ma túy tại khu vực xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Kết luận giám định số 2711/KL-KTHS ngày 16/4/2024 của V4 Bộ C, kết luận: Mẫu chất lỏng màu đỏ bên trong chai nhựa và chai thủy tinh gửi giám định đều là dung dịch Methadone. Thể tích mẫu lần lượt là 308,3ml và 65,0ml. Hàm lượng (nồng độ) Methadone có trong các mẫu lần lượng là 2,0mg/ml và 1,9mg/ml. Khối lượng Methadone có trong các mẫu lần lượt là 0,616gam và 0,123gam. Methadone là chất ma túy, nằm trong Danh mục IIA, STT: 48, ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng: Cơ quan CSĐT Công an huyện S đã tạm giữ 01 hộp niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất lỏng được đựng trong một chai nhựa và một chai thủy tinh cùng bao gói. Bên ngoài tại các mép dán kín có hình dấu niêm phong của V4 Bộ C, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong theo quy định; số tiền 5.000.000đ tạm gửi tại K huyện S.
Cáo trạng số 102/CT-VKSSD, ngày 09/8/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương đã truy tố Bùi Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đối với Bùi Văn S và đề nghị:
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy.
Về hình phạt:
- Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Văn S từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (04/6/2024).
Do bị cáo không có tài sản có giá trị lớn nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có chứa chất lỏng được đựng trong một chai nhựa và một chai thủy tinh cùng bao gói. Bên ngoài tại các mép dán kín có hình dấu niêm phong của V4 Bộ C, chữ ký xác nhận của thành phần tham gia niêm phong theo quy định.
- Trả lại chị Bùi Thị Kim V1 số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng).
Truy thu sung công quỹ Nhà nước của bị cáo số tiền 700.000đ (do bị cáo bán ma túy mà có).
Về án phí, quyền kháng cáo: Buộc bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án nhẹ nhất.
Về tội danh: Căn cứ vào lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa; căn cứ vào Biên bản khám xét, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Trong các ngày 07/4/2024 và ngày 08/4/2024, Bùi Văn S đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đức V2, cụ thể:
+ Lần 1: Khoảng 18 giờ ngày 07/4/2024 tại nhà ở của S, S đã bán cho Viện 01 lọ Methadone với số tiền 300.000đ;
+ Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 08/4/2024 tại đoạn đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, S bán cho Viện 01 lọ Methadone với số tiền 500.000₫ (Viện đã trả Sỹ 400.000đ, còn nợ lại 100.000₫).
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sơn Dương truy tố Bùi Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, gây mất trật tự trị an tại địa phương và gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xử phạt về cùng loại tội liên quan ma túy, không lấy đó làm bài học để cải tạo mình mà tiếp tục phạm tội. Do vậy, cần phải có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung.
[3] Về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đường lối xử lý đối với bị cáo:
Bị cáo có nhân thân xấu.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”; bị cáo có bố đẻ là ông Bùi Đức V (Bùi Đức V3) được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, Huân chương chiến sỹ vẻ vang hạng ba, Huy chương chiến thắng hạng hai, có mẹ đẻ là bà Chu Thị L được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, Huy chương vì sự nghiệp nông nghiệp và phát triển nông thôn. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS cần áp dụng cho bị cáo.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo đã được phân tích ở trên, Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo trong mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị như vậy là phù hợp.
Quá trình điều tra xác định bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
[4] Về vật chứng:
- Đối với 01 hộp niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có hai chai đựng Methadone, bên ngoài tại các mép dán có hình dấu niêm phong của V4 Bộ C theo quy định. Đây là vật chứng của vụ án thuộc danh mục Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với số tiền 5.000.000đ thu giữ tại nhà bị cáo là tiền riêng của vợ bị cáo Bùi Thị Kim V1, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên trả lại cho chị V1.
- Số tiền bị cáo bán ma túy được 700.000đ, bị cáo đã chi tiêu cá nhân hết, đây là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung công quỹ Nhà nước.
[5] Các vấn đề khác:
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo tại khu vực xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để điều tra xử lý.
Về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Văn S và Hoàng Đức V2 vào ngày 05/4/2024 tại khu vực xã Y, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Công an huyện S đã chuyển tài liệu liên quan đến Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
Do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt:
Xử phạt bị cáo Bùi Văn S 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (04/6/2024).
2. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 hộp niêm phong còn nguyên vẹn, bên trong có hai chai đựng Methadone, bên ngoài tại các mép dán có hình dấu niêm phong của V4 Bộ C theo quy định.
(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 19/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện S và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương)
- Truy thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 700.000đ (Bảy trăm nghìn đồng) của bị cáo Bùi Văn S.
- Trả lại số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) cho chị Bùi Thị Kim V1.
(Số tiền trên hiện đang trong tài khoản số 3949.0.1064844.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sơn Dương mở tại Kho bạc Nhà nước huyện S).
3. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Bùi Văn S phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm;
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo đối với phần liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ |
|
Ma Quốc Thể - Trần Hữu Lượng |
Hoàng Thị Minh Khánh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Minh Khánh |
Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 105/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN DƯƠNG, TỈNH TUYÊN QUANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong các ngày 07/4/2024 và ngày 08/4/2024, Bùi Văn S đã 02 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy cho Hoàng Đức V2, cụ thể: + Lần 1: Khoảng 18 giờ ngày 07/4/2024 tại nhà ở của S, S đã bán cho Viện 01 lọ Methadone với số tiền 300.000đ; + Lần 2: Khoảng 17 giờ ngày 08/4/2024 tại đoạn đường thuộc tổ dân phố T, thị trấn S, S bán cho Viện 01 lọ Methadone với số tiền 500.000đ (Viện đã trả Sỹ 400.000đ, còn nợ lại 100.000đ).
