Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HSST

Ngày: 18 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN - TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Cúc
  • - Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông: Trương Văn Bắc
    2. Ông: Quản Giang Thao
  • - Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lữ Thị Hải Vân – Thư ký TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Đại diện VKSND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị H - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử TAND thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/HSST ngày 02 tháng 7 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2024/QĐXX- ST, ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Trần Vũ N - Sinh năm 1985; Quê quán: tại xã Q, huyện Q, Thanh Hóa; Hộ khẩu thường trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông: Trần Quang H1 – sinh năm 1955; Con bà: Vũ Thị N1 - sinh năm 1958; Vợ Lê Thị O - sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/7/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Xương, xử phạt 12 tháng tù về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, đến ngày 04/4/2013 đã chấp hành xong hình phạt.

- Ngày 22/6/2018 bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tang trữ trái phép chất ma túy, mức phạt 1.500.00đồng, bị cáo đã nộp phạt xong ngày 22/8/2018.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 04/4/2024 đến ngày 13/4/2024 bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thanh H2 – sinh năm 1983; Quê quán: xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa; HKTT: Thôn A, xã T, huyện Q, Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Tông giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông: Nguyễn Văn C (đã chết), con bà: Nguyễn Thị T – sinh năm 1964; Vợ: Nguyễn Thị H3 – sinh năm 1985, có 02 con lớn sinh năm 2004, nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 08/01/2008, bị TAND Thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội cướp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích. Hiện bị cáo đang điều trị bệnh xơ gan – cổ chướng độ 4 nên được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa

  • - Người làm chứng: Lê Đức T1 – sinh năm 1983
  • Địa chỉ: TDP C, thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.
  • - Người chứng kiến: Lê Trương H4 – sinh năm 1978.
  • + Lê Trọng T2 – sinh năm
  • Đều có địa chỉ: TDP T, phường H, TX. N, Thanh Hóa.
  • Đều vắng mặt tại phiên tòa

NỘI DUNG VỤ ÁN

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 15 giờ 20 phút, ngày 04/4/2024, Tổ công tác Công an thị xã N tuần tra làm nhiệm vụ tại khu vực TDP T, phường H, thị xã N đã tiến hành kiểm tra hành chính đối với Trần Vũ N đã phát hiện trong túi quần bên phải phía trước của N có một túi ni long màu trắng, viền màu đỏ, loại có khóa zip, bên trong có một gói ni long màu trắng chứa một viên nén màu hồng và một gói giấy bạc, bên trong là lớp giấy màu trắng chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn. N khai viên nén màu hồng là ma túy hồng phiến còn chất bột màu trắng là ma túy loại Heroin, N cất giấu trong người nhằm mục đích để sử dụng. Tổ công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ và niêm phong toàn bộ số ma túy thu giữ được vào phong bì ký hiệu M1. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A70 niêm phong vào phong bì ký hiệu M2.

Về nguồn gốc ma túy hồng phiến N khai là của H2 có bố tên C hay gọi là Hải Cát nhà ở thôn A, xã T, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa cho N. Cơ quan điều tra xác định người này tên Nguyễn Thanh H2, sinh năm 1983. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H2 phát hiện và thu giữ 01 chiếc khẩu trang ở bàn trang điểm trong phòng ngủ của H2 bên trong có 01 túi ni lông bị hở, một đầu chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn niêm phong trong phonbg bì ký hiệu H1 và một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 niêm phong trong phong bì ký hiệu H2..

Kết luận giám định số 1454/KL – KTHS ngày 10/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: 01 viên nén màu hồng của phong bì ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,095 gam ma túy loại Methamphetamine. Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu M1 gửi đi giám định có tổng khối lượng 0,061 gam ma túy loại Heroin.

Kết luận giám định số 1458/KL-KTHS ngày 10/4/2024, Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn của phong bì niêm phong ký hiệu H1 gửi giám định có tổng khối lượng 0,223 gam ma túy loại Heroin.

Quá trình điều tra xác định Trần Vũ NNguyễn Thanh H2 đều là đối tượng nghiện ma túy, vào sang ngày 04/4/2024, cả hai gặp nhau tại Trung tâm y tế huyện Q. Lúc này N nhận được điện thoại của Lê Đức T1 là người ở huyện yên Đ rủ N ra huyện K, tỉnh Ninh Bình đi mua ma túy về sử dụng. Do biết H2 cũng là đối tượng nghiện giống mình, để tiết kiệm tiền xăng nên N rủ H2 cùng đi và đề nghị H2 đổ 200.000 đồng tiền xăng xe ô tô. H2 đồng ý nên N điều khiển xe ô tô BKS 36A – 851.16 chở H2 ra Ninh Bình, trên đường đi hải đưa cho N 200.000 đồng để đổ xăng sau đó cả hai đi đến ngã tư N thuộc thành phố T đón Lê Đức T1. T1 chỉ đường đi đến huyện K, tỉnh Ninh Bình.

Khi đi qua công an huyện K khoảng 500m thì T1 bảo N dừng xe bên đường để T1 đi mua ma túy. Lúc này H2 đưa cho T1 500.000 đồng nhờ T1 mua ma túy hộ, T1 cầm tiền xuống xe đi mua ma túy còn H2N ngồi trên xe đợi. T1 đi vào đường nhánh mua của một người đàn ông không quen biết 03 gói ma túy với giá 500.000 đồng/ gói. Sau khi mua xong trên đường đi bãi đất trống ven song, T1 lấy 1 gói ma túy ra và lấy một ít trong gói ra sử dụng bằng hình thức chích. Sauk hi sử dụng xong T1 gói lại, vứt bỏ bơm tiêm và lọ nước cất tại nơi sử dụng rồi r axe. T1 đưa cho H2 một túi ma túy nguyên còn đưa cho N túi ma túy T1 đã lấy ra một ít để sử dụng còn lại một túi nguyên T1 cất vào túi quần. Trên đường về, H2 nói với N về việc sử dụng Heroin với ma túy H3 phiến thì sẽ có cảm giác “phê” hơn, nếu N muốn thử thì H2 cho N mấy viên để sử dụng. N đồng ý và chở H2 về nhà H2. Khi xe đến đường rẽ vào nhà H2 thì N dừng xe đứng chờ còn H2 đi vào nhà lấy hai viên hồng phiến đưa cho N. Sau đó N chở T1 về bến xe buýt N để T1 về nhà còn N thì điều khiển xe đến TDP T, phường H, thị xã N đón khách và bị phát hiện và bắt quả tang. Tại cơ quan điều tra Trần Vũ NNguyễn Văn H5 đều khai nhận H5 cho N 02 viên H3 phiến, N đã sử dụng hết 1 viên còn một viên bị bắt giữ.

Về nguồn gốc số ma túy H3 phiến H5 khai; khoảng 10 ngày trước khi H5 đang điều trị bệnh tại TP . thì có mua của một người đàn ông chạy xe ôm không quen biết trên đường H với giá 200.000 đồng còn số ma túy thu giữ được tại nhà H5H5 mua trước tết nguyên đán năm 2024, mua tại Vũng Tàu của một người khoảng 40 tuổi, cao khoảng 1m65, dáng người gầy, da ngăm đen, đi xe Wave Alpha màu trắng, không nhớ biển kiểm soát. Đối với số ma túy H5 nhờ T1 mua H5 đã sử dụng hết nên không thu giữ được.

Đối với số ma túy Lê Đức T1 mua cho các bị cáo. Lê Đức T1 đã sử dụng hết gói ma túy, Nguyễn Thanh H2 cũng đã sử dụng hết gói ma túy T1 mua hộ cho H2. Số ma túy còn lại T1 đưa cho N, N lấy ra sử dụng một ít cùng với viên H3 phiến. Số còn lại khi bắt giữ theo kết luận giám định là 0,061 gam ma túy loại Heroin. Do không xác định được khối lượng số ma túy mà T1H2 đã sử dụng hết, đối chiếu với quy định của pháp luật, bản thân T1 không có tiền án, tiền sự về hành vi tang trữ trái phép chất ma túy nên hành vi của thọ chưa đủ cấu thành tội tang trữ trái pơhép chất ma túy. CQĐT Công An thị xã N đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Lê Đức T1.

CQĐT Công an thị xã N đã phối hợp với cơ quan chức năng trên địa bàn tìm kiếm các đối tượng bán ma túy cho T1H2 nhưng không xác định được danh tính những người này nên không có căn cứ để xử lý.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và không có ý kiến gì về nội dung bản cáo trạng mà VKS ND thị xã N truy tố các bị cáo.

Bản cáo trạng số 114/CT-VKSNS ngày 01/7/2024 của VKSND thị xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo Trần Vũ NNguyễn Thanh H2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS. Tại phiên tòa VKS vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị HĐXX áp dụng: điểm i khoản 1 Điều 249; Điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của BLHS

  • - Xử phạt: Trần Vũ N từ 15 đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày 04/4/2024.
  • + Nguyễn Thanh H2 từ 15 đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.
  • - Về tang vật: Đề nghị HĐXX tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy trong vụ án.
  • + Tịch thu bán xung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen để xung công quỹ nha nước.
  • Đối với xe ô tô BKS 36B5 – 477.52, N sử dụng khi chở T1H2 đi mua ma túy. Xe thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị O là vợ N, chị O không biết bị cáo sử dụng vào mục đích đi mua ma túy nên CQĐT đã trả lại cho chị O là đúng quy định vì vậy đề nghị HĐXX không xem xét.
  • * Án phí: Buộc các bị cáo phải nộp án phí HSST theo quy định.

Các bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Phân tích tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Phân tích những chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội:

Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản khám nghiệm hiện trường; Kết luận giám định; lời khai của những người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như lời khai của các bị cáo tại phiên tòa khẳng định:

Khoảng 16 giờ ngày 04/4/2024, Trần Vũ N đang có hành vi tang trữ 0,095 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,061 gam ma túy loại Heroin mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện và bắt quả tang. Quá trình đấu tranh khai thác xác định cũng trong ngày 04/4/2024, Nguyễn Thanh H2 có hành vi tàng trữ 0,223 gam ma túy loại Heroin và 0,095 gam ma túy loại Methamphetamine tại nơi ở của mình.

Như vậy Trần Vũ N có hành vi tàng trữ tổng khối lượng ma túy là 0,156 gam tương ứng với 3,12%; Nguyễn Văn H5 tàng trữ tổng khối lượng ma túy là 0,318 gam tương ứng với 6.36%. Căn cứ Nghị định số 19/2018/NĐ-CP, ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý tại một số Điều của BLHS thì tỷ lệ các loại chất ma túy các bị cáo tàng trữ trái phép đều dưới 100% nên hành vi phạm tội của các bị cáo được xác định theo điểm i khoản 1 Điều 249 của BLHS.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả các bị cáo gây ra.

Các Bị cáo nhận tội, không có ý kiến tranh luận gì với đại diện VKS, đã nhận thức được hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt. Vì vậy đủ cơ sở để HĐXX kết luận hành vi của các bị cáo đủ các dấu hiệu cấu thành về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất vụ án:

Trong những năm qua tình hình về tội phạm ma túy dưới mọi hình thức trong cả nước nói chung và trên địa bàn thị xã N nói riêng ngày càng tăng. Các vụ án ma túy diễn biến ngày càng phức tạp, tình trạng mua bán nhỏ lẻ, tổ chức sử dụng ma túy diễn ra ngày càng nhiều. Các bị cáo đủ nhận thức để hiểu được những tác hại do ma túy gây ra và các hành vi về tàng trữ, mua bán, sử dụng, lôi kéo người khác đều vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện và thực hiện tới cùng. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về ma túy, gây nên dư luận bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trật tự an ninh, an toàn xã hội, ảnh hưởng đến lối sống và thuần phong mỹ tục và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của các bị cáo nói riêng cũng như tiếp tay cho những kẻ buôn bán trái phép chất ma túy. Vì vậy cần phải lên cho các bị cáo một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.

[4]. Xét nhân thân và trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo phạm tội mang tính chất đồng phạm giản đơn, không có sự phân công vai trò từ trước tuy nhiên để đánh giá hành vi phạm tội của các bị cáo cần áp dụng Điều 17 và Điều 58 của BLHS để lên cho các bị cáo mức hình phạt tương xứng với hành vi và hậu quả các bị cáo gây ra. Các Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, sau khi phạm tội bị cáo đã thật thà, thành khẩn khai báo, nhận thức được hành vi phạm tội của bản thân nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

Xét về vai trò của các bị cáo HĐXX thấy: Bị cáo Trần Vũ N không phải là người khởi xướng ra việc đi mua ma túy nhưng do biết Nguyễn Thanh H2 là đối tượng nghiện ma túy giống mình nên đã chủ động chuẩn bị phương tiện đi lại, rủ rê, lôi kéo H2 đi mua ma túy về sử dụng. Quá trình đi mua ma túy H2 lại là người cho thêm N 02 viên ma túy H3 phiến. Số lượng ma túy H2 tàng trữ nhiều hơn N vì vậy cân nhắc hành vi của các bị cáo HĐXX thấy cần thiết phải lên cho cả hai bị cáo mức hình phạt ngang nhau để các bị cáo thấy được tính nghiêm minh của pháp luật.

Xét về nhân thân của các bị cáo: Các bị cáo đều có nhân thân xấu, đều đã bị kết án, lại là đối tượng nghiện ma túy nên nghĩ cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để các bị cáo có thời gian cải tạo, sữa chữa bản thân cũng như giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét về hình phạt bổ sung: xét thấy các bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, không có nghề nghiệp, lại bị áp dụng hình phạt tù vì vậy nghĩ không cần áp dụng khoản 5 Điều 249 BLHS làm hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[5]. Xét về vật chứng: Cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định trong vụ án.

Quá trình điều tra xác định xe mô tô xe ô tô BKS 36B5 – 477.52 thuộc quyền sở hữu của chị Lê Thị O là vợ của bị cáo N. Chị O không biết bị cáo N sử dụng xe vào mục đích phạm tội nên CQĐT đã trả lại cho chủ sở hữu vì vậy HĐXX không xem xét.

Điện thoại di động S A14, bên trong có lắp sim 0971.309.015 thu giữ của H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xám có lắp sim số 0985.173.794 thu giữ của N và chiếc điện thoại di động N2 105 có lắp sim 0342.131.425 điện thoại của T1 tự nguyện giao nộp đây là điện thoại T1 dùng để liên lạc với N trong quá trình mua ma túy. Đây là điện thoại di động các bị cáo sử dụng liên lạc trong quá trình mua bán ma túy nên được xác định là vật chứng trong vụ án cần tịch thu bán xung công quỹ nhà nước.

Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào: điểm i Khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 BLHS.
  • - Tuyên bố: Bị cáo Trần Vũ NNguyễn Thanh H2 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  • - Xử phạt: Trần Vũ N 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày tạm giữ 04/4/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
  • + Nguyễn Thanh H2 15 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt giam thi hành án hoặc tự nguyện thi hành án.
  • - Về vật chứng: Áp dụng: điểm b, c khoản 1 Điều 47 BLHS; khoản 2 Điều 106 BLTTHS. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong của phong bì ký hiệu H1 và 0,188 gam chất bột, màu trắng ngà, dạng cục vụn là ma túy loại Heroin; 01 phong bì ký hiệnu M1 và 0,076 gam chất bột màu hồng theo kết quả giám định là ma túy loại Methamphetamine, 0,051 gam chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn theo kết luận giám định là ma túy loại Heroin.

Tịch thu bán xung công 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A70 màu xám, số Imei 1: 355915103941522, số I: 355916103941520, bên trong có lắp sim số 8984048000333121675, tương ứng số điện thoại 0985.173.xxx; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105, màu đen, có số sery 1: 356819634423183, số sery 2: 356819636423181, bên trong lắp sim in dãy số 8984048000931051289, tương ứng với số điện thoại 0342.131.xxx và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A14, số Imeil: 357368581571718, số I: 357497681571714, bên trong có lắp sim số 0971.309.015.

Hiện tang vật trên đang được nhập kho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn theo phiếu NK2024/98 ngày 03/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

  • - Án phí: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và điểm 1 mục I bản danh mục án phí, lệ phí tòa án.
  • - Mỗi Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí HSST.
  • - Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và 333 BL TTHS năm 2015. Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành tại Điều 2 Luật THA dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận THA, quyền yêu cầu THA, tự nguyện THA hoặc bị cưỡng chế THA theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật THA dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THA dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hoá;
  • - VKSND Tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Công an TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - CQ THAHS CATX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - THADS TX. Nghi Sơn, Thanh Hóa.
  • - Các Bị cáo;
  • - Lưu.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lương Thị Cúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HSST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 105/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ ngày 04/4/2024, Trần Vũ N đang có hành vi tang trữ 0,095 gam ma túy loại Methamphetamine và 0,061 gam ma túy loại Heroin mục đích để sử dụng thì bị Tổ công tác Công an thị xã N phát hiện và bắt quả tang. Quá trình đấu tranh khai thác xác định cũng trong ngày 04/4/2024, Nguyễn Thanh H2 có hành vi tàng trữ 0,223 gam ma túy loại Heroin và 0,095 gam ma túy loại Methamphetamine tại nơi ở của mình.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger