Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 17 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hồng Trang

Thẩm phán: Ông Nguyễn Đức Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh

Ông Trần Linh

Ông Bùi Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hoàng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Sơ thẩm thụ lý số 89/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lương Văn T; Tên gọi khác: không; giới tính: nam. Sinh ngày 18 tháng 03 năm 1983 tại: huyện Q, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: bản Tỉn Pú, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12. Họ và tên cha: Lương Văn H (chết). Họ và tên mẹ: Lương Thị H1, tên gọi khác Vi Thị K (chết). Anh chị em ruột: có 03 người, bị cáo là con đầu. Vợ: Lô Thị Q; Sinh năm: 1983 (đã ly hôn). Con có 03 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2007

Tiền án: Ngày 30/9/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An xử phạt 7 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án HSST số 133. Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 02/8/2013.

Ngày 17/12/2015, bị Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xử phạt 10 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo Bản án HSST số 129. Ngày 11/4/2016, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử, giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án số 206/HSPT). Chấp hành xong án phạt tù vào ngày 01/8/2022. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/02/2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo Lương Văn T: Ông Nguyễn Vinh D, luật sư văn phòng L, đoàn luật sư N. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 23 tháng 02 năm 2024, Lương Văn T đi chơi ở xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An tình cờ gặp một người đàn ông giới thiệu tên là T1 khoảng 45 tuổi, người Quảng Nam. T1 đã đặt vấn đề mua Heroine với T. Quá trình trao đổi bàn bạc, T với T1 thống nhất mua bán 02 (hai) cây Heroine với giá 70.000.000₫ (Bảy mươi triệu đồng), giao dịch vào sáng ngày 25 tháng 02 năm 2024 tại cổng bến xe B, thành phố V, tỉnh Nghệ An. T1 đã trả trước cho T số tiền 31.000.000đ (Ba mươi mốt triệu đồng), số tiền còn lại sẽ giao khi T1 nhận được ma túy.

Khoảng 17 giờ cùng ngày, Lương Văn T đi bộ vào một lán trại trên khu vực đồi núi thuộc bản M, xã T, huyện Q, tỉnh Nghệ An gặp một người đàn ông dân tộc Mông giới thiệu tên là S, khoảng 35 tuổi để hỏi mua ma túy. Thào đặt mua 02 (Hai) cây Heroine với giá 40.000.000₫ (Bốn mươi triệu đồng), rồi đưa cho Sa 31.000.000₫ (Ba mươi mốt triệu đồng), số tiền còn thiếu khi nào Thào bán được ma túy sẽ trả sau. S đồng ý và hẹn Thào giao ma túy ở khu vực cuối đường bản Mòng, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An.

Khoảng 18 giờ cùng ngày, T và S gặp nhau ở khu vực bản M, xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Tại đây, S đưa cho Thào 04 (Bốn) gói ni lông (02 gói to, 02 gói nhỏ) bên trong chứa ma túy (Heroine). Sa nói gửi thêm cho T 02 (hai) gói Heroine (khoảng 2 cây) nhờ Thào bán giúp. Sa chỉ lấy Thào với giá 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), T đồng ý rồi đưa ma túy về nhà cất giấu. Đến khoảng 10 giờ ngày 25 tháng 02 năm 2024, T bỏ toàn bộ số ma túy trên vào túi áo ngực bắt xe khách đi xuống bến xe thành phố V để giao ma túy cho T1. Khi đi đến ngã ba T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Lương Văn T xuống xe để đổi sang xe khác thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phát hiện trong túi áo ngực trong bên phải của Lương Văn T có 04 (bốn) gói bên trong chứa các cục chất bột màu trắng có tổng khối lượng 158,92 gam (nghi là ma túy Heroine) nên đã tiến hành lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng.

Tại Kết luận giám định số 275/KL-KTHS(Đ2-MT), ngày 29/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận:

" 04 (bốn) mẫu các cục chất bột màu trắng (ký hiệu M1, M2, M3 và M4) thu giữ của Lương Văn T gửi tới giám định đều là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetymorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/08/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.

Số cục chất bột màu trắng (04 gói) thu giữ của Lương Văn T có tổng khối lượng là 158,92 g (một trăm năm mươi tám phẩy chín mươi hai gam)".

Vật chứng vụ án, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N thu giữ của Lương Văn T: 158,92 gam ma túy (Heroine) đã lấy 28,66 gam giám định còn lại 130,26 gam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Nghệ An.

Tại Bản cáo trạng số 121/CT/VKS-P1 ngày 24/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố Lương Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An giữ nguyên Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lương Văn T 20 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Ma túy thu giữ của các bị cáo bị Nhà nước cấm lưu hành đề nghị tịch thu tiêu hủy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu của bị cáo là phương tiện phạm tội đề nghị tịch thu sung quỹ.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Tại phiên toà và quá trình điều tra bị cáo khai nhận tội nên không tranh luận về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét là bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng núi khu vực đặc biệt khó khăn, không được đi học nên trình độ nhận thức hạn chế, bị cáo nuôi các con từ nhỏ và nợ nần chồng chất hoàn cảnh túng quẫn suy nghĩ nông cạn nên phạm tội, nên đề nghị cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo được sớm trở về gia đình chăm lo con cái. Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng với bị cáo.

Bị cáo Lương Văn T không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa, bị cáo Lương Văn T khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố. Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh N cùng các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập đủ căn cứ kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 23/02/2024 Lương Văn T đã mua của người đàn ông tên S (Người dân tộc Mông không rõ lai lịch, địa chỉ) 158,92 gam ma túy (H) với giá 31.000.000₫ (Ba mươi mốt triệu đồng). Đến khoảng 10 giờ ngày 25 tháng 02 năm 2024, T bỏ toàn bộ số ma túy trên vào túi áo ngực bắt xe khách đi xuống bến xe thành phố V để bán ma túy cho T1 (Không rõ địa chỉ). Khi đi đến ngã ba T, phường Q, thị xã T, tỉnh Nghệ An, Lương Văn T xuống xe để đổi sang xe khác thì bị Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang. Với hành vi trên mua bán trái phép chất ma tuý nêu trên, nên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Lương Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự như là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Lương Văn T bị kết án về tội ma tuý, thuộc trường hợp tái phạm, nay chưa được xoá án tích nhưng lại tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, không được học hành, nhận thức pháp luật còn hạn chế, hoàn cảnh gia đình có khó khăn nên có xem xét giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

[3] Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây tác hại nghiêm trọng đến tình hình trật tự an toàn xã hội, gây bất bình trong nhân dân. Ma túy là hiểm họa lớn cho toàn xã hội, làm suy thoái giống nòi, phá hoại kinh tế và hạnh phúc gia đình, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ khả năng nhận thức và biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng chỉ vì hám lợi vẫn cố tình thực hiện tội phạm, bị cáo đã nhiều lần bị xét xử về tội phạm ma tuý nhưng không chịu khó lao động, rèn luyện bản thân, nay lại tiếp tục phạm tội, bất chấp hậu quả, thể hiện ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm minh như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội, nhằm trừng trị và cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời răn đe phòng ngừa chung trong xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản giá trị lớn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và người bào chữa cho bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[6] Về vật chứng: 158,92g hêrôin (đã lấy 28,66g để giám định) thu giữ của bị cáo là chất ma tuý Nhà nước cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu của bị cáo là phương tiện liên lạc khi phạm tội, cần tịch thu sung quỹ.

[7] Đối với người đàn ông tên T1 đưa tiền cho Lương Văn T để mua ma tuý và người đàn ông dân tộc Mông bán ma tuý cho T, do T không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ theo quy định pháp luật.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng: điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lương Văn T 20 (Hai mươi) năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 25/02/2024. Miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Lương Văn T.

  2. Vật chứng:
    • Tịch thu, tiêu hủy: 158,92g hêrôin (đã lấy 28,66g để giám định) Hêrôin được niêm phong trong phong bì thư.
    • Tịch thu sung quỹ 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 105 màu đen thu của bị cáo Lương Văn T.

    Đặc điểm, tình trạng các vật chứng như Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/04/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh N và Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

  3. Án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí, buộc bị cáo Lương Văn T phải chịu 200.000₫ ( Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Bị cáo Lương Văn T được quyền kháng cáo Bản án lên Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
THẨM PHÁNTHẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Đức AnhPhạm Hồng Trang

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Bùi Thanh Hải, Trần Linh, Nguyễn Hồ C

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hồng Trang

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT-Công an Nghệ An;
  • - Cơ quan THAHS-Công an Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Q.phong, H.Quế phong
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 17/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: mUA BÁN MA TÚY
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger