TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST Ngày: 15/8/2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Công Định.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Văn Hiến
Bà Vũ Thị Mai
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thành Đạt - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 169/2024/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị M, sinh năm 1999 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1992 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và những lời khai tiếp theo nguyên đơn chị Đỗ Thị M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T kết hôn với nhau vào ngày 15/6/2017, trước khi cưới có được tìm hiểu nhau trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cưới xong chị về nhà anh T làm dâu ngay, anh chị chung sống tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hoà thuận, hạnh phúc. Đến năm 2022 thì nảy sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã, đánh nhau. Gia đình họ hàng hai bên cũng có hòa giải cho vợ chồng nhưng không thành. Chị và anh T đã ly thân từ tháng 3/2024 đến nay, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay chị xác định mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn T có 02 con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 31/3/2016 và Trần Thị Kim Y, sinh ngày 13/7/2019. Nay ly hôn, chị có nguyện vọng được nuôi dưỡng cháu Trần Anh T1, để anh T nuôi dưỡng cháu Trần Thị Kim Y. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh T tự thoả thuận, chị không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai, bị đơn anh Trần Văn T trình bày: Anh xác nhận thời điểm kết hôn như chị M trình bày là đúng. Anh xác định vợ chồng trong quá trình chung sống có mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Anh và chị M đã ly thân từ tháng 4/2024. Nay chị M yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, anh mong muốn Toà án hoà giải đoàn tụ, tuy nhiên nếu chị kiên quyết ly hôn anh cũng hoàn toàn đồng ý ly hôn với chị Đỗ Thị M.
Về con chung: Anh xác nhận con chung như chị M trình bày là đúng. Nay ly hôn, anh đồng ý với ý kiến của chị M về con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị M tự thoả thuận, anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do anh có công việc bận nên anh xin vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc, các phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải cũng như các phiên toà xét xử vụ án trên.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024, cháu Trần Anh T1 trình bày: Cháu được biết bố mẹ cháu làm thủ tục ly hôn tại Toà án, nếu bố mẹ cháu không ở được với nhau cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Đỗ Thị M.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, nguyên đơn chị Đỗ Thị M và bị đơn anh Trần Văn T đều xin vắng mặt. Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án Đại diện Viện kiểm sát phát đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị M: Cho chị Đỗ Thị M được ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Giao cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Kim Y, sinh ngày 13/7/2019; Giao cho chị Đỗ Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 31/3/2016 cho đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T thực hiện quyền này.
Ngoài ra đại điện Viện kiểm sát còn đề xuất giải quyết án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng và thẩm quyền giải quyết vụ án:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Đỗ Thị M khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Trần Văn T. Hiện nay anh Trần Văn T có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng:
Nguyên đơn chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Điều 227, 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Phùn Thị H và anh Giáp Văn Đ theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thấy:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, được tự do tìm hiểu trước khi kết hôn và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 15/6/2017. Do vậy đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án cả chị M, anh T đều thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn và hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 03/2024 đến nay. HĐXX thấy: Thực tế chị M, anh T không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau, không sống chung cùng nhau là không đảm bảo theo Điều 19 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó, có căn cứ xác định hôn nhân giữa chị M, anh T đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị M, xử cho chị Đỗ Thị M được ly hôn anh Trần Văn T
[2.2] Về con chung: Chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T có 02 con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 31/3/2016 và Trần Thị Kim Y, sinh ngày 13/7/2019. Trong quá trình giải quyết, chị M và anh T đều thoả thuận thống nhất để anh T nuôi dưỡng cháu Trần Thị Kim Y còn để chị M nuôi dưỡng cháu Trần Anh T1. Hội đồng xét xử xét thấy việc thoả thuận của chị M, anh T là hoàn toàn tự nguyện và việc thoả thuận này phù hợp với nguyện vọng của con chung nên căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho anh Trần Văn T trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Kim Y, sinh ngày 13/7/2019, giao cho chị Đỗ Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 31/3/2016. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[2.3]. Về tài sản chung, công nợ chung: Chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T xác định không có, anh chị không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí: Nguyên đơn chị Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Đỗ Thị M đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006110 ngày 11 tháng 4 năm 2024.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 6, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị M
- Quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T được ly hôn.
- Về con chung: Giao cho anh Trần Văn T nuôi con chung là Trần Thị Kim Y, sinh ngày 13/7/2019; Giao cho chị Đỗ Thị M trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Anh T1, sinh ngày 31/3/2016 đến khi các con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi theo quy định của pháp luật. Cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết, vì đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T có quyền thăm nom con chung, không ai được cản trở chị Đỗ Thị M và anh Trần Văn T thực hiện quyền này.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị M phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng là tiền tạm ứng án phí mà chị Đỗ Thị M đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang theo Biên lai thu số 0006110 ngày 11 tháng 4 năm 2024.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đặng Công Định |
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 15/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: M và T ly hôn, con chung
