Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 105/2024/HS-PT

Ngày 14 - 11 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Lâm; Ông Nguyễn Hữu Bằng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 66/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang (viết tắt là bản án sơ thẩm).

- Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 09 tháng 6 năm 1967; tại thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: khu vực L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; chỗ ở: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (chết) và bà Nguyễn Thị Đ (chết); có chồng là Nguyễn Phi L và 03 người con (lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997); tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự; ngày 30/01/2023 bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường N, thành phố N, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản, theo Quyết định số 10/QĐ-XPHC, đã nộp tiền phạt ngày 27/3/2023 (chưa được coi là không có tiền sự); nhân thân: xấu; bị bắt tạm giữ, tạm giam: không; có mặt.

Ngoài ra vụ án còn có bị hại và người đại diện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không có kháng cáo hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 05/12/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thu T (bị cáo) điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 54X8-2921 đi từ nhà ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang đến quán C để mua nước uống. Trong lúc chờ nhân viên quán làm nước, bị cáo phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 128G, màu vàng của bị hại Huỳnh Thị Phương N (bị hại), là nhân viên phục vụ của quán để trên quầy nước. Bị cáo lấy điện thoại bỏ vào túi áo bên trái đi ra xe rời khỏi quán, đến cửa hàng điện thoại "Nhân Iphone" nhờ ông Nguyễn Hữu N1 mở khoá mật khẩu và bán điện thoại cho ông N1. Ông N1 nhận máy và hẹn chiều quay lại, bị cáo yêu cầu ông N1 đưa trước cho bị cáo mượn số tiền 600.000 đồng. Chiều cùng ngày bị cáo quay lại cửa hàng điện thoại thì bị Công an mời làm việc, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ:

01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 128G, màu vàng.

Kết luận định giá tài sản số 27/KL-ĐGTS ngày 11/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản xác định: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 128G, màu vàng có giá trị là 10.500.000đ (mười triệu năm trăm nghìn đồng).

Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả cho bị hại Huỳnh Thị Phương N 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 128G, màu vàng. Bị hại đã nhận xong.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu N1 yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền 600.000 đồng đã mượn. Bị cáo đã trả cho ông N1 600.000 đồng, ông N1 đã nhận xong.

Bản án hình sự sơ thẩm số 07/2024/HS-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Ngã Bảy, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội Trộm cắp tài sản.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Thị Thu T kháng cáo xin hưởng án treo. Tại phiên tòa bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày quan điểm như sau:

Kháng cáo của bị cáo đúng theo quy định của pháp luật, nên đề nghị xem xét đơn theo thủ tục phúc thẩm.

Về giải quyết vụ án, bản án sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 173 tuyên bố bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản, xử phạt 09 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo, nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ mới, mức hình phạt bản án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, bị cáo sau khi bị xét xử đã bị tại nạn giao thông ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ, không còn nguy hiểm cho xã hội nếu không bắt chấp hành hình phạt tù. Đề nghị áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo.

Trình bày lời bào chữa: Bị cáo thống nhất đề nghị của Kiểm sát viên.

Phát biểu đối đáp: không.

Nói lời sau cùng: Bị cáo cam kết không tái phạm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên chấp nhận xét đơn theo thủ tục phúc thẩm.
  2. Về tội danh: tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quyết định của bản án sơ thẩm. Xét lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: ngày 05/12/2023, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đến quán C để uống nước. Tại đây bị cáo lén lút lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro, dung lượng 128G, màu vàng của em Huỳnh Thị Phương N. Theo kết luận định giá của cơ quan chuyên môn, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 10.500.000đ (mười triệu năm trăm nghìn đồng). Với hành vi bị cáo đã thực hiện, bản án sơ thẩm kết án bị cáo phạm tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
  3. Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: khi xét xử, bản án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng theo quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đồng thời buộc bị cáo chịu tình tiết tăng nặng phạm tội đối với người dưới 16 tuổi theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, áp dụng mức hình phạt 09 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên sau khi bị xét xử sơ thẩm, bị cáo bị tại nạn giao thông chấn thương mở hộp sọ ở vùng đầu, sức khoẻ bị giảm sút nghiêm trọng, hiện tại còn đang phải tiếp tục theo dõi điều trị tại Bệnh viện C1, Thành phố Hồ Chí Minh. Xét bản thân bị cáo hiện không còn nguy hiểm cho xã hội, việc không bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù không ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, mà chuyển sang hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn là cải tạo không giam giữ.
  4. Với những nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, sửa bản án sơ thẩm.
  5. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm, do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo không phải chịu, do kháng cáo được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo ngày 07 tháng 6 năm 2024 của bị cáo Nguyễn Thị Thu T, sửa bản án sơ thẩm như sau:
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phạm tội Trộm cắp tài sản.
  3. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện nhận được quyết định thi hành án.
  5. Giao bị cáo Nguyễn Thị Thu T cho UBND xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã P trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
  6. Miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo Nguyễn Thị Thu T trong thời gian chấp hành án, do bản thân không có nghề nghiệp ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn.
  7. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Thị Thu T không phải chịu.
  8. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  9. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 14/11/2024).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hậu Giang;
  • - CA tỉnh Hậu Giang (PV06);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS thành phố Ngã Bảy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-PT ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 105/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger