Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NGẠN

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày 14-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Nhường.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Dương Văn Hiến - Phó Bí thư đoàn thanh niên Cộng sản Hồ chí minh huyện Lục Ngạn.

2. Ông Nguyễn Tất Bẩy - Chủ tịch Hội Nạn nhân chất độc màu da cam, dioxin huyện Lục Ngạn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Thu Trang, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thắm, Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm trực tiếp công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Trịnh Kế K, sinh năm 1990; tại huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn K, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên: Không; con ông Trịnh Kế D (đã chết) và bà Luyện Thị K1, sinh năm 1957; gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ 3 trong gia đình; có vợ là Chu Thị C, sinh năm 1992; có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 23/4/2024 đến 28/4/2024, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1984; tại quận B, thành phố Hà Nội; nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: E20 K P, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; Đảng, chính quyền, đoàn thể: Đảng viên: Không; con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Đoàn Thị N, sinh năm 1953; gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ 4 trong gia đình; có vợ là Bùi Thanh H, sinh năm 1984; có 01 con sinh năm 2012.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Chị Bàn Thị Y, sinh ngày 19/8/2009.

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Bàn Đức V, sinh năm 1991.

Địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn.

(Chị Y, ông V vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại: Bà Trần Thu T1 - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. Có mặt

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Vi Văn S, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

2. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969. Vắng mặt.

Địa chỉ: Số B, phố K, phường T, quận Đ, thành phố Hà Nội.

· Người làm chứng: Chị Vũ Thị Kim N1, sinh năm 2001.

Địa chỉ: Thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình.

(Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 22/4/2024, Trịnh Kế K, sinh năm 1990, trú tại: thôn K, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Văn T, sinh năm 1984, trú tại E K95 P, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; anh Bùi Văn C1, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, tỉnh Bắc Giang; anh Trần Đăng K2, sinh năm 1982, trú tại thôn H, xã G, huyện L và anh Tạ Thanh H1, sinh năm 1980, trú tại tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L, cùng nhau đến quán Karaoke Anh K2, địa chỉ tổ dân phố M, thị trấn C, huyện L để hát. Khoảng 5 đến 10 phút sau thì anh C1 đi về trước, những người còn lại tiếp tục hát tại quán Karaoke Anh K2. Quá trình hát có chị Bàn Thị Y, sinh ngày 19/8/2009, trú tại thôn N, xã N, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và chị Vũ Thị Kim N1, sinh năm 2001, trú tại thôn C, xã N, huyện T, tỉnh Hòa Bình phục vụ rót bia. Đến khoảng 01 giờ ngày 23/4/2024, chị Y về trước. Khoảng 03 giờ cùng ngày, sau khi hát xong, K và T rủ chị N1 đi ăn đêm thì chị N1 đồng ý. K, T, anh K2, anh H1 và chị N1 đến quán Đ ở thị trấn C, huyện L để ăn đêm. Khi đang ăn đêm thì chị N1 có gọi chị Y ra ăn đêm cùng. Quá trình ăn đêm, chị N1 có hỏi xin K 500.000 đồng là tiền làm ngoài giờ, K đồng ý và đưa cho chị N1 500.000 đồng. Sau khi ăn đêm xong thì T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, biển kiểm soát 30E-608.30 chở K cùng chị N1 và chị Y đi theo hướng về huyện S, tỉnh Bắc Giang để tìm nhà nghỉ vì đã muộn. Anh H1 và anh K2 không đi cùng. Khi đến nhà nghỉ A thuộc thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang, K đặt phòng 203 và phòng 204. Chị Y và chị N1 vào phòng 203, T đi vào phòng 204 còn K ở dưới đỗ xe lên phòng sau. Thưởng đi sang gõ cửa phòng 203 thì chị Y và N1 mở cửa phòng cho T vào. Khi K đi lên thì thấy T, chị Y và chị N1 đang ở phòng 203 thì K đi vào ngồi nói chuyện cùng. K nhìn chị N1 (với ý rủ chị N1 đi sang phòng khác) rồi đi sang phòng 204 thì chị N1 hiểu ý đi sang phòng 204 cùng K còn T ở phòng 203 cùng với chị Y. Tại phòng 204, chị N1 tự nguyện quan hệ tình dục với K. Tại phòng 203, T ngồi nói chuyện với chị Y và đề nghị chị Y quan hệ tình dục nhưng Y không đồng ý. Đến khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày 23/4/2024, T đi sang phòng 204 nói chuyện cùng chị N1 thì K đi sang phòng 203. K đề nghị chị Y cho quan hệ tình dục thì chị Y đồng ý. K và chị Y lên giường nằm ôm hôn nhau rồi K dùng tay cởi quần áo của chị Y và sờ nắn ngực, sờ bên ngoài âm đạo của chị Y rồi cho dương vật vào âm đạo của chị Y nhấp ra vào nhiều lần. K quan hệ tình dục với chị Y khoảng 5-7 phút thì K xuất tinh ra ngoài âm đạo của chị Y. Sau đó, chị Y đi vào nhà vệ sinh tắm, rửa sạch bên ngoài và bên trong âm đạo còn K quay lại phòng 204 để ngủ. Thưởng quay lại phòng 203 thì thấy chị Y đi từ nhà vệ sinh ra. T bảo Y “cho anh vui vẻ tý rồi về” (ý là quan hệ tình dục), Y trả lời “vâng, nhanh em còn về”. Thưởng và chị Y lên giường nằm. Thưởng tự cởi quần áo của mình còn chị Y tự tháo khăn tắm. Sau đó T để chị Y nằm gối lên tay phải, dùng tay trái sờ nắn ngực của chị Y một lúc thì T ngồi dậy rồi quỳ giữa hai chân của chị Y, cho dương vật vào âm đạo của chị Y để giao cấu. Tuy nhiên do dương vật của T to nên chỉ cho được phần đầu dương vật vào âm đạo của chị Y. Sau nhiều lần Thưởng không cho được toàn bộ dương vật vào âm đạo của chị Y thì chị Y được chị N1 gọi về nên T không giao cấu với chị Y nữa. Sau đó, T đưa cho chị Y số tiền 700.000 đồng để chị Y bắt taxi về rồi T sang phòng 204 để ngủ cùng K, còn chị Y và chị N1 đi về.

Cùng ngày 23/4/2024, chị Y làm đơn trình báo sự việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện L.

Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã tiến hành khám nghiệm hiện trường tại phòng 203 nhà nghỉ A thuộc thôn M, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quá trình khám nghiệm hiện trường phát hiện, thu giữ: 01 (một) sợi lông màu đen thu trên 01 chiếc khăn vải màu trắng (ở vị trí đầu giường bên trái) được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Lông 06”; 01 (một) sợi lông màu đen thu trên 01 (một) chăn vải một mặt màu đỏ, một mặt có thêu hình bông hoa (được niêm phong trong phong bì ký hiệu “Lông 5”); 01 (một) chăn vải một mặt màu đỏ, một mặt có thêu hình bông hoa kích thước (200x180)cm thu trên giường và 01 (một) khăn vải màu trắng kích thước (48x28)cm thu tại bòn rửa mặt trong nhà vệ sinh. Khăn vải được cho vào 01 (một) túi nilon màu đen. Túi nilon màu đen chứa khăn vài và chiếc chăn nêu trên được niêm phong trong hộp bìa cát tông nhiều màu sắc, hình, chữ, ký hiệu “CHĂN”; 01 (một) ga giường màu vàng, đỏ, trên vị trí mặt gia giường màu đỏ phát hiện đám chất màu trắng đã khô bám dính trên diện (14x9)cm và 01 (một) khăn vải màu trắng kích thước 135x67cm tại vị trí đầu giường bên trái (được cho vào túi nilon màu đen). Ga giường và túi nilon màu đen chứa khăn vải nêu trên được niêm phong trong hộp catong có nhiều chữ, hình, màu sắc khác nhau, ký hiệu “GA”.

Ngày 23/4/2024 và 04/6/2024, lần lượt Trịnh Kế K và Nguyễn Văn T đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đầu thú. K tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, số IMEI: 354449443960779, bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0975.085.xxx.

Nguyễn Văn T tự nguyện giao nộp 01 xe ô tô nhãn hiệu Mercedes, màu sơn trắng, gắn biển kiểm soát 30E-608.30.

Ngày 23/4/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã phối hợp với Trung tâm y tế huyện L tiến hành khám, thu mẫu dịch âm đạo đối với chị N1 và Y. Kết quả:

Đối với chị N1: Toàn thân tỉnh, da niêm mạc hồng, không phù, đầu gối hai bên bầm đỏ không sây sát. Âm hộ viêm đỏ, màng trinh nhiều vết rách cũ, không thấy tổn thương mới. Đặt mỏ vịt kiểm tra: Âm đạo ít dịch đục có ít bọt; cổ tử cung nhẵn, tử cung không to, phần phụ hai bên không thấy khối.

Đối với chị Y: Toàn thân tỉnh, da niêm mạc hồng, không phù, vùng cổ có vết xước, không thấy sây sát, tổn thương khác trên da. Âm hộ viêm đỏ, có vết trợt tại mép môi bé bên trái. Kiểm tra màng trinh có vết rách cũ, không phát hiện tổn thương mới, không rỉ máu.

Bác sỹ đã tiến hành sử dụng tăm bông để thu dịch âm đạo của N1 (niêm phong trong phong bì ký hiệu “DỊCH NHUNG” và thu dịch âm đạo của Y (niêm phong trong phong bì ký hiệu “DỊCH YÊN”.

Cùng ngày 23/4/2024, Cơ quan điều tra tiến hành thu mẫu tóc của chị Y, K, chị N1 và T, niêm phong trong các phong bì ký hiệu lần lượt “TÓC YÊN”, “TÓC KHA”, “TÓC NHUNG”, “TÓC THƯỞNG” để phục vụ công tác giám định.

Tại bản Kết luận giám định số 3153/KL-KTHS ngày 24/5/2024 của V1 Bộ C2 kết luận:

“1. Trong mẫu ghi thu dịch âm đạo của Bàn Thị Y có tinh trùng người và là tinh trùng của Nguyễn Văn T, không có tinh trùng của Trịnh Kế K.

2. Trong mẫu ghi thu dịch âm đạo của Vũ Thị Kim N1 không có tinh trùng người.

3. Trên chiếc ga giường và chiếc chăn gửi giám định có tinh trùng người và là tinh trùng của một người đàn ông khác, không phải tinh trùng của Trịnh Kế K hay Nguyễn Văn T.

4. Sợi nghi lông màu đen ký hiệu “Lông 5" gửi giám định là lông, tóc người, không xác định được kiểu gen (ADN) từ sợi lông này do không còn tế bào gốc.

5. Sợi nghi lông màu đen ký hiệu “Lông 6" gửi giám định là lông, tóc người và là lông, tóc của Trịnh Kế K.

6. Lưu kiểu gen (ADN) của Bàn Thị Y, Vũ Thị Kim N1, Nguyễn Văn T và Trịnh Kế K tại V1 Bộ C2”.

Tại Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số 2255/24/KLTDTE-TTPY ngày 25/4/2024 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B đối với chị Bàn Thị Y kết luận: Màng trinh: Màng trinh giãn rộng. Có vết rách cũ ở vị trí 3 giờ, 7 giờ, 12 giờ”.

Tại biên bản làm việc với Trung tâm y tế huyện L ngày 19/6/2024 xác định: Qua tiến hành xét nghiệm, chị Bàn Thị Y không có thai.

Trong vụ án này, Trịnh Kế K có hành vi quan hệ tình dục với chị Vũ Thị Kim N1. Quá trình điều tra xác định chị N1 tự nguyện quan hệ tình dục với K, giữa K và chị N1 không có thỏa thuận, hứa hẹn gì về lợi ích vật chất hay lợi ích khác để quan hệ tình dục. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với K về hành vi này.

Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30E-608.30 do T sử dụng để chở K, chị Y và chị N1 đến nhà nghỉ A. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969, trú tại: số B, K, T, Đ, Hà Nội. Ngày 28/4/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0975.085.xxx của Trịnh Kế K xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 09/7/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại điện thoại nói trên cho Trịnh Kế K và trả lại cho chủ nhà nghỉ A6 tài sản thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường gồm: 02 khăn vải màu trắng, 01 chăn vải, 01 ga trải giường theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Trịnh Kế K và Nguyễn Văn T đã bồi thường thiệt hại cho chị Y tổng số tiền 60.000.000 đồng. Chị Y đã nhận đủ số tiền trên, không có yêu cầu bồi thường gì khác và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với K và T.

Từ những nội dung nêu trên, bản Cáo trạng số: 106/CT-VKS ngày 26 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn đã truy tố các bị cáo Trịnh Kế K, Nguyễn Văn T phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo khoản 1 Điều 145 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Kết luận điều tra và bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không oan sai.

Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, bị hại đã nhận đủ số tiền bồi thường và không yêu cầu gì. Chủ toạ phiên toà thay mặt Hội đồng xét xử công bố lời khai có trong hồ sơ vụ án của những người này và công bố bản kết luận giám định. Bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T không có ý kiến gì về lời khai của những người này và bản kết luận giám định.

Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm vẫn giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về hình phạt:

- Căn cứ khoản 1 Điều 145; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Trịnh Văn K3 từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

- Căn cứ khoản 1 Điều 145; điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Nguyễn Văn T từ 15 (Mười lăm) tháng tù đến 18 (Mười tám) tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là từ 30 (Ba mươi) đến 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND phường P, quận B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

2. Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Nhất trí với ý kiến của đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo về mức tội danh và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với hai bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử phạt hai bị cáo mức án từ 18 (Mười tám) tháng tù đến 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng treo.

- Bị cáo Trịnh Thế K4, Nguyễn Văn T không có ý kiến tranh luận nội dung gì.

Thực hiện lời nói sau cùng, các bị cáo xin Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất và xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người làm chứng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Người bào chữa cho bị hại có mặt tại phiên tòa, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của những người này không làm ảnh hưởng đến vụ án. Căn vào Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[3] Tại phiên toà bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật chứng thu được và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở để kết luận các bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T qua quen biết trong quá trình đi hát karaoke và ăn đêm cùng nhau, khoảng 05 giờ 30 phút ngày 23/4/2024, tại phòng 203 nhà nghỉ A, địa chỉ tại thôn M, xã P, huyện L, Trịnh Kế K có hành vi giao cấu với chị Bàn Thị Y sinh ngày 19/8/2009. Sau khi giao cấu với chị Y xong, K sang phòng 204 ngủ thì Nguyễn Văn T vào phòng 203 gặp chị Y và có hành vi giao cấu với chị Y. Việc giao cấu với K và T, chị Y đều tự nguyện đồng ý. Tại thời điểm giao cấu, chị Y mới 14 (mười bốn) tuổi 8 (tám) tháng 4 (bốn) ngày.

[4] Về tính chất của vụ án: Bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đủ điều kiện nhận thức nhưng đã thực hiện hành vi giao cấu với bị hại khi bị hại dưới 16 tuổi. Hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe, tâm sinh lý của người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, đây là lứa tuổi chưa phát triển hoàn thiện cả về tinh thần và thể chất, là khách thể được pháp luật bảo vệ, nên cần phải xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra. Tuy nhiên khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định mức án phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[5] Về nhân thân, tính chất đồng phạm và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy:

[5.1] Về nhân thân: Bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[5.2] Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập không có bàn bạc gì với nhau nên không có đồng phạm.

[5.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[5.4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo sau khi phạm tội ra đầu thú, bị cáo Nguyễn Văn T có bố được nhà nước tặng thưởng huân huy chương chiến sĩ hạng nhì, huân chương kháng chiến hạng nhất. Do vậy các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[6] Về mức hình phạt đối với các bị cáo: Qua đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử thấy các bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Được người đại diện hợp pháp của bị hại và bị hại có đơn đề nghị xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Để các bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội không nhất thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội, mà chỉ cần giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục và ấn định thời gian thử thách cũng có đủ điều kiện cải tạo để các bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội. Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như các quy định của pháp luật về xử lý mức hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát cũng như đề nghị mức hình phạt của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo nên cần được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4, Điều 145 Bộ luật Hình sự thì các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

[8] Về những vấn đề khác:

- Đối với Trịnh Kế K có hành vi quan hệ tình dục với chị Vũ Thị Kim N1. Quá trình điều tra xác định chị N1 tự nguyện quan hệ tình dục với K, giữa K và chị N1 không có thỏa thuận, hứa hẹn gì về lợi ích vật chất hay lợi ích khác để quan hệ tình dục. Do vậy không có căn cứ để xử lý đối với K về hành vi này là có căn cứ.

- Đối với chiếc xe ô tô biển kiểm soát 30E-608.30 do T sử dụng để chở K, chị Y và chị N1 đến nhà nghỉ A. Quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là tài sản của anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1969, trú tại: số B, K, T, Đ, Hà Nội. Ngày 28/4/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành trả lại cho chủ sở hữu theo quy định là có căn cứ.

- Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu xám, bên trong có gắn 01 sim điện thoại số 0975.085.xxx của Trịnh Kế K xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Ngày 09/7/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành xử lý vật chứng, trả lại điện thoại nói trên cho Trịnh Kế K và trả lại cho chủ nhà nghỉ A6 tài sản thu giữ trong quá trình khám nghiệm hiện trường gồm: 02 khăn vải màu trắng, 01 chăn vải, 01 ga trải giường theo quy định là có căn cứ

[9] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị hại đã đã nhận đủ số tiền bồi thường, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[10] Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trịnh Kế K, bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị của đại diện Viện kiểm tại phiên tòa về nghĩa vụ chịu án phí của các bị cáo phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 Bộ Luật tố tụng Hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 145, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xử phạt bị cáo Trịnh Kế K 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/8/2024).

Giao bị cáo cho UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (14/8/2024).

Giao bị cáo cho UBND phường P, quận B, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí: Buộc bị cáo Trịnh Văn K3 và bị cáo Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND huyện Lục Ngạn;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Lục Ngạn;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Ngạn;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Các bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Nguyễn Đức Nhường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sfd
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger