Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PLEIKU

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 11-6-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Phạm Thị Kim Loan;

Ông Nguyễn Văn Tuyên.

- Thư ký phiên toà: Ông Đặng Đại Bình – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Đào Anh Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103 /2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2024 đối bị cáo:

Trần Minh T; sinh năm 1988, tại Vĩnh Phúc; nơi đăng ký HKTT: Thôn H, xã H, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc; chỗ ở trước khi bị bắt: Tổ D phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Bình T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T2; vợ là chị H, sinh năm 1995 (đã ly hôn) và có 03 người con; tiền án: Không; tiền sự: Không.

Bị cáo Trần Minh T bị tạm giữ từ ngày 15/11/2023 đến ngày 24/11/2023, sau đó bị áp dụng biện pháp tạm giam cho đến nay, tại Nhà tạm giữ Công an T4. Có mặt.

- Bị hại: Bà Đặng Thị L, sinh năm 1964. Địa chỉ: 1 T, Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Người tham gia tố tụng khác: Không.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Minh T là nhân viên làm việc tại cơ sở chế biến bánh phở khô của bà Đặng Thị L (tại số A đường T, Tổ D, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai). Trong quá trình làm việc, T thường được bà L giao điện thoại di động của bà L để nhận cuộc gọi khi có khách hàng đặt mua bánh phở. Điện thoại di động của bà L là loại điện thoại thông minh (Smartphone), sử dụng số thuê bao 0923413868; trong điện thoại có lưu thông tin số Căn cước công dân, tài khoản ngân hàng của bà L mở tại Ngân hàng N (V). Sáng ngày 28/10/2023, T được bà L giao điện thoại để liên lạc với khách hàng. Do muốn có tiền để chơi G online (trò chơi điện tử trực tuyến), nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của bà L bằng cách: Sử dụng điện thoại di động (loại Smartphone) của T đăng nhập vào ứng dụng ví điện tử MoMo, sử dụng số điện thoại 0923.413.xxx của bà L để tạo tài khoản ví điện tử MoMo với tên đăng nhập “DANG THI LAN”. Tiếp đó, T sử dụng số Căn cước công dân và tài khoản ngân hàng V (số tài khoản 0291000325339) của bà L để liên kết với tài khoản ví điện tử MoMo "DANG THỊ LAN” mà T vừa tạo ra. Sau khi tài khoản ví điện tử Mo Mo “DANG THỊ LAN” liên kết với tài khoản ngân hàng của bà L xong, T thực hiện việc chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng V của bà L đến tài khoản ví điện tử Momo “DANG THỊ LAN” trên điện thoại di động của T. Tuy nhiên, do thực hiện thao tác nhầm nên T chuyển tiền không thành công. Đến các ngày 04 và 13/11/2023, T đã 02 (hai) lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng V của bà L, cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Sáng ngày 04/11/2023, sau khi chơi Games online thua và bị thiếu tiền nên T sử dụng điện thoại di động của mình đăng nhập vào tài khoản ví điện tử MoMo “DANG THỊ LAN” và thực hiện việc chuyển số tiền 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) từ tài khoản ngân hàng V của bà L vào tài khoản MoMo “DANG THI LAN” trên điện thoại của T. Sau khi chiếm đoạt được 5.000.000 đồng trong tài khoản của bà L, T chuyển hết số tiền này vào tài khoản ví điện tử MoMo tên “Mùa seo vàng” (không xác định được thông tin chủ tài khoản) để mua vật phẩm chơi Games online.

Lần thứ hai: Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 13/11/2023, với thủ đoạn như lần trước, T thực hiện hành vi chiếm đoạt số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) trong tài khoản ngân hàng V của bà L bằng cách chuyển tiền đến tài khoản ví điện tử MoMo “DANG THI LAN” trên điện thoại di động của T. Đến khoảng 08 giờ ngày 14/11/2023, T thực hiện việc chuyển số tiền 10.000.000 đồng từ tài khoản ví điện tử MoMo “DANG THỊ LAN” đến tài khoản ví điện tử MoMo tên “TRAN MINH TIEN” của T. Số tiền chiếm đoạt được của bà L, sau đó T chuyển 2.000.000 đồng vào một tài khoản ví điện tử MoMo (T không nhớ tên tài khoản và không xác định được thông tin chủ tài khoản) để mua vật phẩm chơi G1; chuyển 1.000.000 đồng đến tài khoản ngân

hàng V của T, có số tài khoản 1038661685. Số tiền 7.000.000 đồng còn lại, T giữ trong tài khoản ví điện tử MoMo “TRAN MINH TIEN”.

Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 14/11/2023, bà Đặng Thị L kiểm tra tài khoản ngân hàng V của mình thì phát hiện đã bị chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng. Ngay sau đó, bà L đến Công an phường T, TP . trình báo. Căn cứ lời khai và những thông tin do bà L cung cấp, ngày 15/11/2023 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T4 tiến hành bắt giữ Trần Minh T và thu giữ của T 01 điện thoại di động Smartphone hiệu Nokia màu xanh kèm sim số. Trên cơ sở lời khai của T, Cơ quan điều tra đã phong toả tài khoản ngân hàng V số 1038661685 của T, trong tài khoản có số tiền 1.000.000 đồng và phong toả tài khoản ví điện tử Momo tên “TRAN MINH TIEN”, trong tài khoản có số tiền 7.000.000 đồng.

Vật chứng vụ án: Đối với điện thoại di động Smartphone hiệu Nokia màu xanh kèm sim số thu giữ của Trần Minh T, qua điều tra xác định là công cụ T đã sử dụng để thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng V của bà Đặng Thị L. Cơ quan điều tra chuyển điện thoại trên theo vụ án để xử lý.

Về dân sự: Bà Đặng Thị L yêu cầu Trần Minh T bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đã chiếm đoạt, hiện T chưa bồi thường theo yêu cầu trên.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên và không có ý kiến gì khác.

Tại bản Cáo trạng số: 122/CT-VKS ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Trần Minh T về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Trần Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự: Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự;

Đối với điện thoại di động Smartphone hiệu Nokia màu xanh kèm thu giữ của Trần Minh T là công cụ sử dụng vào việc phạm tội, nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với im số kèm theo, xét vật chứng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 8.000.000 đồng trong tài khoản của bị cáo T đã bị Cơ quan điều tra đã phong toả. Xét đây là số tiền bị cáo T chiếm đoạt của bị hại L mà có, nên đề nghị trả lại cho bà L.

Về dân sự: Đề nghị áp dụng Điều 584; 586; 589 của Bộ luật Dân sự;

Buộc bị cáo Trần Minh T phải bồi thường cho bị hại Đặng Thị L số tiền 7.000.000 đồng.

Về án phí: Bị cáo Trần Minh T phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Trần Minh T đồng ý với quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không có trình bày ý kiến gì.

Bị cáo Trần Minh T nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

Căn cứ vào các chứng cứ và các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

Căn cứ vào các tình tiết, chứng cứ nêu trên,

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T4, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo và hình phạt:

Trần Minh T là nhân viên làm việc tại cơ sở chế biến bánh phở khô của bà Đặng Thị L (tại số A đường T, tổ D, phường T, TP ., tỉnh Gia Lai). Lợi dụng sự tin tưởng của bà L khi giao điện thoại di động S (bên trong có thông tin về số Căn cước công dân, số tài khoản ngân hàng của bà L) để liên lạc với khách hàng, T đã liên kết tài khoản ngân hàng V (số tài khoản 0291000325339) của bà L với tài khoản ví điện tử MoMo tên “DANG THỊ LAN” do T tạo ra trên điện thoại di động của T, mục đích để chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của bà L bằng cách: Chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của bà L vào tài khoản ví điện tử MoMo tên “DANG THỊ LAN” trên điện thoại di động của T. Với thủ đoạn trên, trong các ngày 04 và 13/11/2023, tại cơ sở chế biến bánh phở khô của bà L, T đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng V của bà L, với tổng số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng). Ngày 15/11/2023, T bị Cơ quan điều tra bắt giữ; điện thoại di động Smartphone T3 sử dụng làm công cụ phạm tội cũng đã bị thu giữ.

Như vậy, hành vi sử dụng thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác để chiếm đoạt số tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) của chủ tài khoản, do bị cáo Trần Minh T thực hiện như nêu trên là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng trong lĩnh vực công nghệ thông tin, xâm phạm quyền sở hữu về tài sản, đã phạm vào tội: “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”, quy định tại Điều 290 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nên đã phạm vào tình tiết định khung: “Phạm tội 02 lần trở lên”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 290 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hội đồng xét xử xét thấy, cần phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Trần Minh T có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Trần Minh T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Vật chứng:

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh thu giữ của Trần Minh T. Xét vật chứng là phương tiện bị cáo T dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách nhà nước. Đối với sim số kèm theo không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng trong tài khoản ngân hàng V số 1038661685 của T và số tiền 7.000.000 đồng trong tài khoản ví điện tử Momo tên “TRAN MINH TIEN” đã được Công ty CP D chuyển qua tài khoản của Công an thành phố T4 - số tài khoản 39490905458100000 tại Kho bạc Nhà nước G2 theo Lệnh chuyển có ngày 02/5/2024 tại Ngân hàng TMCP C chi nhánh G3. Xét đây là vật chứng bị cáo T chiếm đoạt của bị hại Đặng Thị L mà có, nên trả lại cho bị hại L.

[5] Về dân sự:

Bị hại Đặng Thị L yêu cầu Trần Minh T bồi thường số tiền 15.000.000 đồng đã chiếm đoạt; bị cáo đồng ý bồi thường số tiền này cho bị hại. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của bị hại là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận. Tuy nhiên tại mục vật chứng đã trả lại cho bị hại Đặng Thị L số tiền 8.000.000 đồng, nên bị cáo Trần Minh T phải bồi thường cho bị hại Đặng Thị L số tiền còn lại là 7.000.000 đồng.

[6] Về án phí:

Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ điểm n khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ Điều 584; 586; 589 của Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 106; Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Trần Minh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15/11/2023.

3. Về vật chứng:

Tuyên:

Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu xanh; Tịch thu tiêu hủy sim số kèm theo (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/6/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku và Công an thành phố T4)

Trả lại cho bị hại Đặng Thị L tổng số tiền là 8.000.000 đồng (tám triệu đồng), cụ thể: số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trong tài khoản Ngân hàng V số 1038661685 của Trần Minh T và số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) trong tài khoản ví điện tử Momo tên “TRAN MINH TIEN” đã được Công ty CP D chuyển qua tài khoản của Công an thành phố T4 - số tài khoản 39490905458100000 tại Kho bạc Nhà nước G2 theo Lệnh chuyển có ngày 02/5/2024 tại Ngân hàng TMCP C chi nhánh G3.

4. Về dân sự:

Buộc bị cáo Trần Minh T phải bồi thường số tiền 7.000.000 đồng (bảy triệu đồng) cho bị hại Đặng Thị L.

Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu

cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

5. Về án phí:

Buộc bị cáo Trần Minh T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và án phí dân sự sơ thẩm là 350.000 đồng (ba trăm năm mươi nghìn đồng).

6. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo; bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 11/6/2024) để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan Thi hành án tỉnh Gia Lai;
  • - Cơ quan điều tra - Công an thành phố Pleiku;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an thành phố Pleiku;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Pleiku;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ/VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Hoài Thơ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PLEIKU, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh T - D290
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger