|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2024/HS-ST Ngày: 10 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đào Khel
- Ông Huỳnh Phước
Thư ký phiên tòa: bà Phan Thị Bích Ngọc – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Hướng – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Ban N2, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm lưu động vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 93/2024/QĐXXST-HS, ngày 20 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Việt P, sinh ngày 22/8/1988, tại: Sóc Trăng. Nơi thường trú: ấp T, thị trấn C, huyện C, tỉnh Sóc Trăng; nơi ở hiện tại: Phòng số 12, nhà trọ số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: buôn bán; dân tộc: Kinh; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Việt T và bà Trần Thị Yến N; có vợ (đã ly hôn) và 01 người con, chung sống như vợ chồng với Kim Thị Ánh H; tiền sự: không; tiền án: không; về nhân thân: vào ngày 19/10/2018 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 tháng, chấp hành xong vào ngày 03/11/2019, đã xoá tiền sự. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27 tháng 12 năm 2023 và chuyển sang tạm giam cho đến nay. (có mặt)
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Kim Thị Ánh H; sinh năm 1987; địa chỉ: P, nhà trọ số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Bà Trương Thị N1; sinh năm 1988; địa chỉ: P, nhà trọ số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân tại nhà trọ Ba Anh E, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S thường xuyên xuất hiện các đối tượng có biểu hiện nghi vấn mua bán, tàng trữ trái phép chất ma tuý nên Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố S phối hợp với Công an P1, thành phố S tiến hành xác minh. Đến khoảng 12 giờ 45 phút ngày 27 tháng 12 năm 2023, lực lượng chức năng phát hiện Nguyễn Việt P đang đứng trước khu vực trước nhà trọ Ba Anh E có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, lực lượng chức năng phát hiện trong túi quần P đang mặc trên người có hai gói nylon bên trong có chứa chất tinh thể rắn màu trắng (Gói 1), nghi vấn là ma túy nên lực lượng chức năng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng gửi Cơ quan chuyên môn giám định.
Sau khi bắt quả tang P, lực lượng chức năng tiến hành khám xét nơi cư trú của P tại phòng số 12, nhà trọ Ba Anh E, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S thì phát hiện trên giường của P có một hộp giấy, bên trong hộp giấy có một gói nylon chứa chất rắn màu trắng và một đoạn ống thuỷ tinh bên trong có chứa chất rắn màu trắng (Gói 2). Ngoài ra, lực lượng chức năng còn phát hiện tại khu vực cạnh bức tường phòng vệ sinh có một gói nylon bên trong chứa chất tinh thể rắn màu trắng (Gói3).
Tại Bản kết luận giám định số 238/KLMT-KTHS ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
Gói 1: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,2527 gam, loại Methamphetamine.
Gói 2: Mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định (A) là ma túy, có khối lượng là 0,0956 gam, loại Methamphetamine và mẫu chất rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định (A2) là ma túy, có khối lượng 0,0302 gam, loại Methamphetamine.
Gói 3: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (Gói 3) được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1100 gam, loại Methamphetamine.
Trong quá trình điều tra, P khai nhận các chất rắn mà lực lượng chức năng thu giữ khi bắt quả tang và khám xét nơi cư trú của P là ma túy, mục đích cất giấu số ma túy này là để sử dụng. P khai nhận số ma túy này là của Trương Thị N1, sinh năm 1988, cư trú tại phòng số 13, nhà T, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho P và P cất giấu để sử dụng. Ngoài ra, P còn thừa nhận: tại phòng số 12, nhà T, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thuộc quyền quản lý của bị cáo. Tại đây, bị cáo đã cho Trương Thị N1 và Kim Thị Ánh H cùng với bị cáo đã cùng nhau sử dụng ma tuý vào ngày 24/12/2023 và vào ngày 26/12/2023 thì bị cáo sử dụng cùng với H, ma tuý mà bị cáo cùng với N1, H sử dụng là do bị cáo cung cấp.
Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra thu giữ 03 (ba) gói niêm phong vụ số 238/2023 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S, Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Ngọc T1; một chai nhựa trong có nắp màu đen được khoét hai lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu trắng, một lỗ gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; hai đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn, hai cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, 55 gói nylon hở một đầu, 107 mảnh nylon hở hai đầu và một quẹt gas đã qua sử dụng.
Đối với Trương Thị N1 quá trình điều tra không thừa nhận hành vi cho ma tuý cho bị cáo P và cung cấp ma tuý, địa điểm phòng số 13, nhà trọ Ba Anh E cho Kim Thị Ánh H sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngoài lời khai của bị cáo P và H thì không có chứng cứ nào khác nên không có căn cứ xử lý. Đối với hành vi tàng trữ ma tuý của bà N1 thì vào ngày 15/5/2024 đã bị Toà án nhân dân thành phố Sóc Trăng xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Cáo trạng số 104/CT-VKS-TPST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Việt P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình; xử phạt: bị cáo từ 07 năm đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt buộc bị cáo P chấp hành chung hình phạt của 02 tội là từ 08 năm 06 tháng tù đến 10 năm tù.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu huỷ: 03 (ba) gói niêm phong vụ số 238/2023 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S, Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Ngọc T1; một chai nhựa trong có nắp màu đen được khoét hai lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu trắng, một lỗ gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; hai đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn, hai cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, 55 gói nylon hở một đầu, 107 mảnh nylon hở hai đầu và một quẹt gas đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, biết ăn năn, hối cải; không có tranh luận và nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành Sóc Trăng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trương Thị N1, Kim Thị Ánh H: sự vắng mặt của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N1, bà H không ảnh hưởng đến việc xét xử bị cáo. Căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự Toà án tiến hành xét xử vắng mặt bà N1 và bà H.
Về nội dung:
[3] Nhận thấy, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Việt P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời thừa nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám nghiệm hiện trường và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Nên có đủ cơ sở xác định bị cáo Nguyễn Việt P thực hiện hành vi phạm tội như sau: vào khoảng 12 giờ 50 phút, ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại khu vực nhà trọ Ba Anh E và phòng số 12, nhà trọ Ba Anh E, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng lực lượng chức năng bắt quả tang và khám xét chỗ ở, thì phát hiện bị cáo P đã có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine, với tổng khối lượng 0,4885 gam. Ngoài ra, bị cáo P còn có hành vi cung cấp ma tuý, địa điểm thuộc quyền quản lý của bị cáo là phòng số 12, nhà trọ Ba Anh E, số F, đường L, Khóm I, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng cho Trương Thị N1, Kim Thị Ánh H cùng với bị cáo sử dụng trái phép chất ma tuý vào các ngày 24/12/2023 và ngày 26/12/2023. Các hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Việt P đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
[4] Hành vi trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội và đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách quản lý độc quyền về chất ma túy của Nhà nước và còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là gánh nặng cho gia đình và xã hội. Cho nên, cần phải xử nghiêm đối với bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho xã hội, gia đình và phòng ngừa chung tội phạm.
[5] Tuy nhiên, trước khi quyết định hình phạt cũng cần phải xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
[5.1] Về nhân thân: vào ngày 19/10/2018 bị Toà án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào Cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn là 15 tháng, đã chấp hành xong.
[5.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có
[5.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn, hối cải; tự khai ra những lần phạm tội trước đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo chưa có tiền án đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[6] Từ những phân tích trên, thấy rằng Cáo trạng số 104/CT-VKS-TPST ngày 30 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng truy tố bị cáo Nguyễn Việt P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và không oan sai đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng: 03 (ba) gói niêm phong vụ số 238/2023 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S, Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Ngọc T1; một chai nhựa trong có nắp màu đen được khoét hai lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu trắng, một lỗ gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; hai đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn, hai cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, 55 gói nylon hở một đầu, 107 mảnh nylon hở hai đầu và một quẹt gas đã qua sử dụng, đây là hàng cấm, vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu là 200.000 đồng.
[9] Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về tội danh, áp dụng pháp luật, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 38, điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm a khoản 1 Điều 55, điểm c khoản 1 Điều 249; điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Việt P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Việt P: 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Nguyễn Việt P chấp hành chung hình phạt của hai tội là 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn thi hành án phạt tù tính từ ngày 27 tháng 12 năm 2023.
- Về xử lý vật chứng: tịch thu tiêu huỷ 03 (ba) gói niêm phong vụ số 238/2023 ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh S có chữ ký ghi họ tên Phạm Thanh Trường S, Nguyễn Văn Đ và Huỳnh Ngọc T1; một chai nhựa trong có nắp màu đen được khoét hai lỗ, một lỗ gắn một ống hút màu trắng, một lỗ gắn một đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn; hai đoạn ống thủy tinh có một đầu hình tròn, hai cây kéo bằng kim loại đã qua sử dụng, 55 gói nylon hở một đầu, 107 mảnh nylon hở hai đầu và một quẹt gas đã qua sử dụng.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bà N1, bà H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của của Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Văn Thanh Bình |
Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự: tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 105/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Việt Ph - Phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"
