|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 10/7/2024
Yêu cầu không công nhận là vợ chồng
và nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;
Bà Hà Thị Kim Thu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 302/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về yêu cầu không công nhận là vợ chồng và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111A/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Danh D, sinh năm: 1990. Địa chỉ: Ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
- Bị đơn: Chị Lê Linh H, sinh năm: 1995. Địa chỉ: Ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin giải quyết vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Danh D trình bày như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Lê Linh H tự quen biết, tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất làm lễ cưới, nhưng do không am hiểu pháp luật, nên không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về sinh sống tại ấp C, xã P, huyện V, tỉnh Kiên Giang.
Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, nhưng đến đầu năm 2020, vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên anh và chị H đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Do vậy, anh nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống như vậy nữa, anh muốn giải thoát cuộc hôn nhân này để mỗi người có cuộc sống tốt hơn, nên anh yêu cầu Tòa án không công nhận giữa anh với chị Lê Linh H là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh với chị H có một người con chung tên Danh Lê Phúc T, sinh ngày 11/3/2018. Từ khi ly thân, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng. Nên anh đồng ý giao con chung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh D xác định quá trình chung sống giữa anh và chị H không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Bị đơn chị Lê Linh H trình bày như sau:
Chị thống nhất với trình bày của anh D về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung, nợ chung và nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh chị và việc ly thân là đúng. Đối với yêu cầu khởi kiện của anh D, chị có ý kiến như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị đồng ý với nội dung khởi kiện của anh D là yêu cầu Tòa án không công nhận anh chị là vợ chồng.
- Về quan hệ con chung: Chị và anh D chung sống có một người con chung tên Danh Lê Phúc T, sinh ngày 11/3/2018. Từ khi ly thân, chị là người trực tiếp nuôi con, nên khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung đến tuổi trưởng thành, chị không yêu cầu anh D phải cấp dưỡng nuôi con.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị và anh D không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án anh Danh D yêu cầu Toà án không công nhận giữa anh với chị Lê Linh H là vợ chồng. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Lê Linh H có nơi cư trú tại ấp H, xã M, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Danh D, bị đơn chị Lê Linh H có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Danh D và chị Lê Linh H đều xác nhận rằng anh chị về chung sống với nhau trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, nhưng do không am hiểu pháp luật, nên không làm thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là các tình tiết, sự kiện được các bên đương sự thừa nhận, nên không cần chứng minh theo quy định tại Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do vậy, HĐXX căn cứ vào việc thừa nhận của anh D và chị H chung sống với nhau, mà không có đăng ký kết hôn để giải quyết vụ án theo quy định.
Sau thời gian chung sống với nhau, anh D cho rằng vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống, nên anh và chị H đã sống ly thân với nhau từ đầu năm 2020 cho đến nay. Việc này cũng được chị H thừa nhận. Chính vì vậy, khi anh D yêu cầu Tòa án không công nhận giữa anh với chị H là vợ chồng, thì cũng được chị H đồng ý.
Xét thấy, thời điểm anh D và chị H thiết lập quan hệ hôn nhân, thì anh chị đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng anh chị không làm thủ tục đăng ký kết hôn. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa anh D với chị H đã vi phạm vào khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Do đó, HĐXX thống nhất tuyên bố không công nhận anh Danh D và chị Lê Linh H là vợ chồng.
[3.2] Về quan hệ con chung: Anh D và chị H đều thừa nhận anh chị chung sống với nhau có một người chung tên Danh Lê Phúc T, sinh ngày 11/3/2018. Từ khi ly thân, chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng. Nên anh D đồng ý giao con chung cho chị H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành, anh không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị H cũng có nguyện vọng nuôi con, không yêu cầu anh D phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên ghi nhận việc thoả thuận này.
[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên HĐXX không giải quyết.
[3.4] Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Anh D và chị H xác định anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên HĐXX không giải quyết.
[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh Danh D phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 266; Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 14, Điều 15, khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận anh Danh D và chị Lê Linh H là vợ chồng.
-
Về quan hệ con chung: Ghi nhận việc thoả thuận giữa anh Danh D với chị Lê Linh H về việc anh Danh D đồng ý giao con tên Danh Lê Phúc T, sinh ngày 11/3/2018 cho chị Lê Linh H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi trưởng thành.
- - Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Do các đương sự không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
- - Về quyền thăm nom, chăm sóc con chung: Trong thời gian chị Lê Linh H nuôi con; anh Danh D được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở.
- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Danh D và chị Lê Linh H xác định giữa anh chị không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Danh D phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh D đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001175 ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Anh Danh D không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lâm Nguyễn Thanh Huy |
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về yêu cầu không công nhận là vợ chồng và nuôi con
- Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Yêu cầu không công nhận là vợ chồng và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh D kiện Lê Linh H
