Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/DS-ST

Ngày 08-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lâm Thị Kim Hằng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Hà Văn Châu
  2. Ông Dư Văn Thanh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lịnh là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên Tòa: Bà Đồ Ngọc Tuyền - Kiểm Sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 109/2024/TLST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S; Địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp: Ông Nguyễn Sĩ K- Chức vụ: Chuyên viên quản lý nợ - Ngân hàng Thương mại cổ phần S chi nhánh S1, là người đại diện theo ủy quyền, theo văn bản ủy quyền ngày 22/3/2024. (Có mặt)

- Bị đơn: Ông Trần Quang V, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Số A, đường T, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 19 tháng 02 năm 2024 của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng), cũng như tại phiên toà người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Sĩ K trình bày:

Ngày 24/9/2020, ông Trần Quang V có ký với Ngân hàng Thương mại cổ phần S – Chi nhánh S1 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng) hạn mức tín dụng là 100.000.000 đồng, loại thẻ Family, số thẻ 970403-4154, lãi suất cho vay 2,6%/tháng (31,2%/năm); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 346.700.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 332.928.197 đồng. Từ ngày 23/6/2023 ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thoả thuận. Căn cứ Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên vào ngày 23/09/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông V tại thời điểm này là 119.718.892 đồng sang làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại là 2,6%/tháng). Tính đến ngày 08/7/2024, ông V còn nợ ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi là 167.734.482 đồng (trong đó, nợ gốc là 119.718.892 đồng, lãi quá hạn là 48.015.590 đồng).

Những vấn đề cụ thể người khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bao gồm:

Buộc ông Trần Quang V phải trả ngay cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 08/7/2024 là 167.734.482 đồng (trong đó, nợ gốc là 119.718.892 đồng, lãi quá hạn là 48.015.590 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 09/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

Đối với bị đơn ông Trần Quang V: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã cấp, tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo hoãn phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Các giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng ông V không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án đã tiến hành các thủ tục tố tụng đúng theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự như: Xác định đúng thẩm quyền thụ lý vụ án, quan hệ pháp luật tranh chấp, xác định đúng tư cách tham gia tố tụng của các đương sự, việc thu thập chứng cứ đúng theo quy định. Về thời hạn gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, việc cấp tống đạt đảm bảo đúng theo quy định. Tại phiên Tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, thực hiện đúng theo quy định tại các điều 68; 70; 71; 86 và Điều 234 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; bị đơn ông V không thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ và kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Trần Quang V, cư trú tại thành phố S, tỉnh Sóc Trăng thanh toán số tiền vốn và lãi vay còn nợ là 167.734.482 đồng theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2020. Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn ông V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về nội dung vụ án:

[3] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S về việc yêu cầu ông V trả số tiền gốc và lãi là 167.734.482 đồng, thấy rằng:

Theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2020, Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng Ngân hàng) do nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S cung cấp có chữ ký và chữ viết tên của ông V. Tòa án đã thông báo cho ông V biết các tài liệu chứng cứ trên nhưng ông V không có ý kiến phản đối. Theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”. Đồng thời, sau nhận thẻ tín dụng, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 346.700.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 332.928.197 đồng. Như vậy, có cơ sở xác định ông V đã vay tiền của Ngân hàng theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 24/9/2020 với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng, loại thẻ Family, số thẻ 970403-4154, lãi suất cho vay 2,6%/tháng (31,2%/năm); lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn, mục đích tiêu dùng cá nhân.

[4]. Về tính hợp pháp của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2020, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng và Phiếu yêu cầu lập ngày 02/10/2020. Các bên đều có đủ tư cách chủ thể, có đủ năng lực hành vi dân sự nên chủ thể tham gia ký kết hợp đồng là hợp pháp. Hợp đồng được lập thành văn bản các bên đều tự nguyện ký tên, đóng dấu xác nhận nên hình thức hợp đồng hợp pháp. Các đương sự thỏa thuận về toàn bộ các điều khoản trong nội dung hợp đồng, không bị lừa dối ép buộc và nội dung hợp đồng phù hợp với quy định pháp luật nên có hiệu lực và buộc các bên thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo hợp đồng.

[5]. Ngân hàng thương mại cổ phần S đã kích hoạt thẻ (Giao thẻ và P) với hạn mức sử dụng là 100.000.000 đồng cho ông Trần Quang V. Sau khi nhận thẻ, ông V đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 346.700.000 đồng, đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 332.928.197 đồng. Tuy nhiên, từ ngày 23/6/2023 ông V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng căn cứ Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông V từ ngày 23/9/2023 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu của ông V tại thời điểm này là 119.718.892 đồng sang làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn và yêu cầu ông V thanh toán toàn bộ số tiền vốn và lãi quá hạn tính đến hết ngày 08/7/2024 là 167.734.482 đồng (trong đó, nợ gốc là 119.718.892 đồng, lãi quá hạn là 48.015.590 đồng) là phù hợp với thỏa thuận tại các Điều 18, 19, 20, 22, 23, 24 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết, phù hợp với Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, cũng như phù hợp với với quy định tại khoản 2 Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao. Đồng thời, số tiền gốc và lãi nêu trên Ngân hàng đã tính đúng nên được chấp nhận.

[6] Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 09 tháng 7 năm 2024 cho đến khi ông V trả hết nợ theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng, xét yêu cầu này là phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết cũng như theo quy định tại Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối Cao nên được chấp nhận.

[7] Như đã phân tích trên, đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S được chấp nhận nên không phải chịu án phí.

Bị đơn ông Trần Quang V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 8.386.724 đồng theo quy định khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án Pháp lệnh án phí, lệ phí Toà án;

[9] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 và Khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • Khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
    • Buộc ông Trần Quang V có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền vốn và lãi tính đến hết ngày 08/7/2024 là 167.734.482 đồng (trong đó, nợ gốc là 119.718.892 đồng, lãi quá hạn là 48.015.590 đồng)
    • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ông Trần Quang V còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 24/9/2020, Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Ông Trần Quang V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 8.386.724 đồng.

    Ngân hàng Thương mại cổ phần S không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng Thương mại cổ phần S được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3.614.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001587 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng.

  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND TP Sóc Trăng;
  • - Các đương sự;
  • - Chi cục THADS TP Sóc Trăng;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lâm Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/DS-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 105/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger