Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HÀ NỘI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 105/2024/HS-ST
Ngày: 07/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thắng

Các hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Đức Thành
2. Ông Trần Văn Vinh

Thư ký phiên toà: Bà Đặng Mai Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 94/2024/TLST-HSST ngày 07 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HS ngày 27/5/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trường G; Sinh năm: 2003 tại Hà Nội. Giới tính: Nam; Nơi ĐKHKTT và nơi ở: Đội 7, xã N, huyện T, Hà Nội. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn N- sinh năm: 1973; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị H- sinh năm: 1976. Gia đình có hai chị em, bị can là con thứ hai.

Tiền án, tiền sự: Không.

D chỉ bản số 120 lập ngày 04/02/2024 tại Công an huyện T, thành phố Hà Nội

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị B (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại (xin vắng mặt):

  1. Ông Mai Xuân B1, sinh năm 1950
  2. Chị Mai Thị Phương A, sinh năm 2000

Trú tại: Thôn Tương Chúc, xã Ngũ Hiệp, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Trú tại: xóm D, thôn V, xã V, huyện T, Hà Nội

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 10/8/2023 Nguyễn Trường G (không có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ) điều khiển xe mô tô BKS: 29M1 - 892.14 tham gia giao thông trên đường N theo hướng T đi V. Lúc này G điều khiển cho xe chạy với tốc độ khoảng 30km/giờ và đi cách mép đường bên phải theo chiều đi khoảng 3 - 4m. Khi xe đi đến km 12+500 đường N thuộc xã N, huyện T, Hà Nội, G quan sát thấy phía trước có (cách xe G đang điều khiển khoảng 15m) bà Nguyễn Thị B (sinh năm: 1959, NKTT: Quán Gánh, N, huyện T, Hà Nội) đang đứng ở bên phải đường mặt hướng từ phải sang trái theo chiều đi của G nên G liền bóp phanh cho xe giảm tốc độ và đánh lái xe sang phía bên trái cách mép đường khoảng 5m để tránh thì bà B cũng bất ngờ đi nhanh sang đường nên đã xảy ra va chạm giữa xe moto BKS: 29M1 - 892.14 do G điều khiển với bà B làm bà B bị ngã xuống đường, xe mô tô đổ nghiêng sang trái.

Hậu quả: Bà Nguyễn Thị B được cấp cứu tại Bệnh viện N1, đến 12 giờ 18 phút cùng ngày thì tử vong.

Ngày 10/8/2023 Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thu giữ của Nguyễn Trường G 01 xe mô tô biển số BKS: 29M1-892.14

* Kết quả khám nghiệm hiện trường thể hiện:

Hiện trường xảy ra tai nạn là tại đường N đoạn đối diện nhà số B – Tập thể trung đoàn 17 bên chiều đường từ T đi V, đường có dải phân cách cứng giữa hai chiều đường, có vạch kẻ dời chia làm 2 làn đường. Đo lòng đường lần lượt từ trái qua phải theo chiều từ T đi V được số đo 04m30; 05m70. Điểm mốc nơi xảy ra tai nạn là chuẩn là mép tường nhà bên trái nhà số B tập thể trung đoàn A- đường N theo chiều từ đường N hướng vào nhà. Mép đường chuẩn là mép đường bên phải theo chiều Thường Tín hướng V. Đám máu KT(00m60x00m45): T đám máu cách mép đường chuẩn là 05m40, đồng thời cách điểm mốc là 04m70. Xe mô tô BKS: 29M1-892.14 được dựng bên lề đường trước nhà số B – tập thể trung đoàn 17; đầu xe hướng nhà số B tập thể trung đoàn 17, đo từ hình chiếu tâm trục bánh trước vào mép đường chuẩn được 14m60; đuôi xe hướng đường N, đo từ hình chiếu tâm trục bánh sau vào mép đường chuẩn được 13m40, đồng thời cách điểm mốc là 00m60.

Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã tiến hành rà soát camera và nhân chứng nhưng không phát hiện camera và nhân chứng có liên quan đến vụ việc. Đến ngày 10/01/2024, Cơ quan điều tra đã tiến hành dựng lại hiện trường.

* Kết quả khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông thể hiện:

  • Xe mô tô biển kiểm soát 29M1-892.14: Mặt ngoài bên phải đầu chắn bùn trước có dáu vết trượt mất bụi đất trên diện (12x3,5)cm, vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 57cm;
  • Mặt ngoài yếm chắn gió phía trước bên trái có dấu vết trượt mất bùn đất trên diện (50x11)cm, vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 24cm;
  • M ngoài cao su bàn để chân trước bên trái có vết trượt xước trên diện (3x1,5)cm, điểm thấp nhất cách đất 27cm;
  • Mặt ngoài đầu tay lái bên trái có dấu vết trượt xước trên diện (2,5x0,3)cm dấu vết có chiều từ ngoài vào tâm trục tay lái, đoạn thấp nhất cách mặt đất 52cm;
  • Mặt ngoài đầu ốc trục bánh trước bên trái bám dính chất màu đen (dạng nhựa) trên diện (3x0,3)cm vết có chiều từ ngoài vào tâm trục ốc, điểm thấp nhất cách đất 27,5cm;
  • Mặt ngoài phía dưới càng giảm sóc phía trước bên trái có dấu vết trượt bám dính chất màu đen trên diện( 16x2,5)cm vết có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 25cm;
  • Mặt ngoài gáo gương chiếu hậu phía trước bên trái có dấu vết trượt xước nhựa trên diện (1,5x1)cm, từ gần nhất của vết cách đầu chân gương 0,3cm, điểm thấp nhất cách đất 115cm;
  • Mặt ngoài yếm chắn gió, phía trước bên phải có dấu vết trượt mất bụi đất trên diện (26x10)cm, có chiều từ trước về sau, điểm thấp nhất cách đất 60cm;
  • Mặt ngoài đầu trục bánh trước bên phải phía dưới càng giảm sóc trước bên phải, đầu tay phanh bên phải, đầu tay lái bên trái cạnh ngang bàn chân phanh bên trái, đầu bàn để chân trước bên phải có dấu vết trượt xước chiều từ trước về sau.

Ngày 30/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T trưng câu V1 - Bộ C giám định dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 29M1-892.14.

Tại bản kết luận giám định số 6451/KL-KTHS ngày 21/9/2023 của V1 Bộ C kết luận:

  1. Cơ chế hình thành dấu vết va chạm trên xe mô tô biển số 29M1-892.14, vị trí va chạm đầu tiên trên phương tiện và trên mặt đường.

Dấu vết trượt xước ở mặt ngoài đầu bên phải trục bánh trước, mặt ngoài phía dưới giảm xóc phía trước bên phải, mặt ngoài đầu tay lái bên phải, mặt ngoài yếm chắn gió phía trước bên phải, mặt ngoài bàn chân phanh bên phải, ở mặt ngoài đầu bàn để chân trước bên phải xe mô tô biển số 29M1- 892.14, có chiều từ trước về sau. Các dấu vết này ở xe mô tô biển số 29M1- 892.14 có đặc điểm giống đặc điểm của dấu vết hình thành do va chạm với mặt đường (khi xe mô tô đổ bên phải xuống đường và trượt trên mặt đường).

  • Dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh ở mặt ngoài bên trái chắn bùn phía trước xe mô tô biển số 29M1-892.14 có chiều từ trước về sau.
  • Dấu vết trượt xước bám dính chất màu đen ở mặt ngoài bên trái đầu ốc trục trước và mặt ngoài phía dưới giảm xóc trước bên trái xe mô tô biển số 29M1-892.14 có chiều từ trước về sau.
  • Dấu vết trượt xước kim loại ở mặt ngoài đầu tay nắm bên trái xe mô tô biển số 29M1-892.14 có chiều từ ngoài vào tâm trục tay nắm.
  • Dấu vêt trượt xước ở mặt ngoài gáo gương chiếu hậu bên trái xe mô tô biển số 29M1-892.14 có chiều từ trước về sau, từ phải qua trái.
  • Dấu vết trượt xước mất sơn màu xanh ở mặt ngoài yếm chắn gió phía trước bên trái xe mô tô biển số 29M1-892.14 có chiều từ trước về sau.
  • Dấu vết trượt xước mất nhựa ở mặt ngoài đầu bàn để chân trước bên trái xe mô tô biển số 29M1-892.14 có chiều từ cạnh ngoài vào tâm trục bàn để chân.
  • Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên ở xe ô tô biển số 29M1-892.14 trong vụ tai nạn;
  • Không xác định được vị trí va chạm đầu tiên của xe mô tô biển số 29M1-892.14 trên mặt đường.
  1. Không xác định được tốc độ của xe mô tô biển số 29M1-892.14 ngay trước khi xẩy ra tai nạn.

Ngày 03/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định nguyên nhân tử vong của nạn nhân Nguyễn Thị B. Tại biên bản khám nghiệm tử thi thể hiện:

Các dấu vết tổn thương trên cơ thể

  • Đầu mặt:
    • + Bầm tím da quanh mắt phải kích thước 7x6 cm;
    • + Bầm tím da quanh mắt trái kích thước 7x6 cm;
    • + Hai lỗ tai khô;
    • + Hai lỗ mũi có ít máu;
    • + Cung răng chắc không gãy răng mới, gãy cũ răng 1.1 và 2.1;
    • + Sưng nề vùng chẩm + sờ nắn không rõ vỡ xương;
  • Cổ vững, ngực vững;
  • Bầm tím hố chân trái kích thước 16x8 cm;
  • Tay phải không thấy sưng nề bầm tím da, sờ nắn không thấy gây xương;
  • Tay trái:
    • + Bầm tím da 2/3 dưới cánh tay kích thước 14x14 cm,
    • + Sờ nắn không thấy gãy xương.
  • Khung chậu vững bộ phận sinh dục ngoài bình thường,
  • Hai chân không thấy sưng nề bầm tím da, sờ nắn không thấy gãy xương.
  • Sây sát da thắt lưng trái kích thước 10x5 cm,
  • Ngoài ra không thấy thương tích nào khác.

Tại Bản giám định tử thi qua hồ sơ số 63/64/KLTTHS-TTPY ngày 13/10/2023 của Trung tâm pháp y- Sở Y kết luận:

Phần kết luận:

  1. Các kết quả chính:
  • Chấn thương sọ não:
    • + Kết quả cắt lớp vi tính sọ não ngày 10/8/2023:

Hình ảnh xuất huyết dưới màng cứng trán- thái dương- đỉnh hai bên, chỗ dày nhất khoảng 12mm;

Xuất huyết dưới nhện trán- thái dương- đỉnh vafdocj liềm đại não hai bên;

Vài ổ xuất huyết nhu mô tiểu não, ổ lớn nhất kích thước khoảng 6mm.

Tụ khí nội sọ và ổ mắt hai bên.

Đường giữa lệch nhẹ sang trái

V xương chẩm chạy lan sang hai bên, bên phải lan đến xương thái dương, qua xoang chũm vào cánh lớn xương bướm gây tụ dịch xoang cũm phải, bên trái qua xương bướm lan đến yên bướm và xoang bướm trái gây tụ dịch xoang bướm và hàm bên trái.

  • + Kết quả cắt lớp vi tính hàm mặt có dựng hình 3D ngày 10/8/2023;

Đường vỡ xương chẩm lan đến xoang bướm bên trái;

X hàm bên trái: T1 mỏng, dày niêm mạc, có dịch và khí trong xoang. Ngách mũi xoang hai bên thông.

Kết luận: Hình ảnh đường vỡ xương chẩm lan vào xoang bướm trái gây tụ dịch xoang bướm và xoang hàm bên trái.

  1. Kết luận:

Kết luận giám định: Căn cứ bản Sao y Bệnh án nội khoa mã bệnh nhân 0000531009 của Bện viện Đa khoa Nông nghiệp, Bộ N2 nhận định: nạn nhân Nguyễn Thị B, sinh năm 1959, nhiều khả năng tử vong do: Chấn thương sọ não nặng.

Tại cơ quan điều tra Nguyễn Trường G khai nhận hành vi như đã nêu trên lời khai của G phù hợp với các tài liệu do CQĐT thu thập được.

Nguyên nhân của vụ tai nạn giao thông nói trên là do Nguyễn Trường G điều khiển xe mô tô tham gia giao thông nhưng không có giấy phép lái xe hợp lệ vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ. Khi điều khiển xe mô tô không giảm tốc độ và nhường đường cho người đi bộ vi phạm khoản 4 điều 11 Luật giao thông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến xe mô tô do G điều khiển va chạm với bộ hành là bà Nguyễn Thị B đang qua đường làm bà B tử vong.

Bà Nguyễn Thị B có một phần lỗi khi đi bộ qua đường đã không quan sát các xe đang đi tới để đảm bảo an toàn đã vi phạm vào khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ.

Đối với xe mô tô BKS: 29M1 – 892.14, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là của Nguyễn Trường G, nên ngày 24/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T đã trao trả cho G xe mô tô và đăng ký xe.

Về dân sự: Nguyễn Trường G đã tự nguyện bồi thường cho gia đình nạn nhân Nguyễn Thị B số tiền là 130.000.000₫ (một trăm ba mươi triệu đồng), gia đình nạn nhân không có yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho Nguyễn Trường G.

Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKS-TT ngày 04/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo Nguyễn Trường G về tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Trường G thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Trường G 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về dân sự và vật chứng:

Về dân sự: Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên không xem xét.

Về vật chứng: không có.

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của bị cáo và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, TP .; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì, TP .: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn; bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với các quy định của pháp luật.

[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và vật chứng được thu giữ, kết luận giám định, cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử kết luận:

Khoảng 06 giờ ngày 10/8/2023, tại Km 12+500 đường N thuộc xã N, huyện T, Hà Nội, Nguyễn Trường G không có giấy phép lái xe mô tô hợp lệ vi phạm khoản 9 Điều 8 Luật giao thông đường bộ điều khiển xe mô tô BKS: 29M1 892.14 đi trên đường N theo hướng T đi V. Khi điều khiển xe G không giảm tốc độ nhường đường cho bà Nguyễn Thị B đang đi bộ sang đường vi phạm khoản 4 điều 11 Luật giao thông đường bộ là nguyên nhân dẫn đến tai nạn. Hậu quả bà B bị thương được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện N1 và tử vong cùng ngày.

Bà Nguyễn Thị B có một phần lỗi khi đi bộ qua đường không quan sát các xe đang đi tới để đảm bảo an toàn vi phạm vào khoản 3 Điều 32 Luật giao thông đường bộ.

Hành vi của bị cáo cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự năm 2015.

Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Trì truy tố bị cáo về tội danh trên là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

3.1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

3.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại số tiền là 130.000.000 đồng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bị cáo có ông nội được tặng huy chương kháng chiến, bà nội được tặng bằng khen trong tham gia kháng chiến và nhiều giấy khen trong công tác; bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về trách nhiệm hình sự và hình phạt: Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự, an toàn giao thông, gây hậu quả nghiêm trọng được Bộ luật hình sự quy định là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù đối với các bị cáo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về dân sự và vật chứng:

Về dân sự: Bị hại không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng: Đối với xe mô tô BKS: 29M1 – 892.14, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu xe là của Nguyễn Trường G, nên ngày 24/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an huyện T đã trao trả cho G xe mô tô và đăng ký xe. G đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu, đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[7] Về án phí và quyền kháng cáo:

  • Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
  • Đại diện bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường G phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

  1. Áp dụng Đ a khoản 2 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015:

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Trường G 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 60 (sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện T, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục người được hưởng án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách: Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Áp dụng khoản 2 Điều 106; Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
  • 2.1. Về vật chứng vụ án: không có.
  • 2.2. Về dân sự: không.
  • 2.3. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM:

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Nguyễn Văn Thắng

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • -VKS nhân dân huyện Thanh Trì;
  • - VKS nhân dân thành phố Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - Công an huyện Thanh Trì;
  • - Chi cục THA huyện Thanh Trì
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

NGUYỄN VĂN THẮNG

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 07/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH TRÌ – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger