|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 105/2025/HSST Ngày 13 tháng 06 năm 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Sen
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Hải Hà
- Ông Trần Đức Lưu
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Ngân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Tòa án nhân dân quận Ba Đình mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 199/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với:
* Bị cáo: Nguyễn Văn L, sinh năm 1980; HKTT và nơi ở: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Văn hóa: 12/12; Họ và tên bố: Nguyễn Văn Đ (Sinh năm 1952); Họ tên mẹ: Nguyễn Thị H (Sinh năm 1956). Gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Họ và tên vợ: Hà Diệu A (Sinh năm 1980); Bị cáo có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2007, con nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Chị Lê Thị Minh T, sinh năm 1997; Địa chỉ: G L, phường C, quận B, Hà Nội; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Hoàng Sĩ Q, sinh năm 1991; HKTT: Tập thể nhà máy Ô, phường T, quận T, Hà Nội, Nơi ở: 143A ngõ A N, phường Q, quận Đ, Hà Nội; Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 23/10/2024, thông qua mạng xã hội B và Z, chị Lê Thị Minh T (SN: 1997, Trú tại: G L, phường C, B. Hà Nội) quen biết Nguyễn Văn L (SN: 1980; Trú tại: thôn T, xã T, huyện T, Hà Nội). Khoảng 10h00 ngày 14/11/2024, chị T rủ L đi ăn trưa và uống cà phê. L đã đến đón chị T tại B T, Đ, Hà Nội vào hồi 12h00 cùng ngày. Sau đó, L đưa chị T vào khách sạn H1 (địa chỉ: ngõ A, Trần Kim X, phường Y, Cầu G, Hà Nội) để quan hệ tình dục. L đã sử dụng điện thoại quay chụp trong quá trình quan hệ tình dục, bị chị T phát hiện, và yêu cầu L dừng lại và xóa các hình ảnh đã quay chụp. Sau khi cả hai quan hệ tình dục xong, L về nhà khôi phục đoạn video trên trong thùng rác điện thoại. Khoảng 15h00 cùng ngày L có sử dụng tài khoản Gentleman&x (mật khẩu đăng nhập: Long120107@) đăng đoạn video vừa quay được lên trang Web: Xamvn.fit, kèm theo chú thích: "mới quen thêm em banker nữa làm SHB xem ảnh và nói chuyện 1-2 lần thấy em nó cũng có vẻ dâm và thích chơi. Nhưng với kiểu em gái này tao lại thích vòn cho nó bộc lộ hết dâm tính của nó, để em nó tự muốn gặp mình" (thời lượng 26 giây, dung lượng trên website là 30.5 MB). Khoảng 00h ngày 15/11/2024, đối tượng Hoàng Sĩ Q (SN: 29/8/1991; HKTT: Tập thể nhà máy Ô, phường T, quận T, Hà Nội, Nơi ở: 143A ngõ A N, phường Q, Đ, Hà Nội) truy cập vào website: http://xamvn.fit nhìn thấy từ tài khoản của thành viên Gentleman8x của L đăng đoạn video quan hệ tình dục giữa T với L. Q đã nhắn tin cho chị T qua ứng dụng Messenger với những lời lẽ xúc phạm chị T. Chị T cảm thấy rất xấu hổ và nhục nhã khi biết mình bị phát tán đoạn Video trên nên đã đến Công an quận B - TP Hà Nội tố giác sự việc.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi của mình, như nêu ở trên.
* Vật chứng thu giữ của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ của Nguyễn Văn L: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FIMD X6 màu xanh. Đây là phương tiện L đã sử dụng quay Video quan hệ tình dục giữa L và chị T rồi đăng lên W: http//xamvn.fit.
Cơ quan CSĐT dã trưng cầu giám định đối với đoạn video trên tại Sở Văn hóa và Thể thao - UBND thành phố H. Tại bản Kết luận số 207/SVHTT-TTr ngày 21/01/2025 về việc thẩm định văn hóa phẩm, kết luận: 01 video ký hiệu (clipsex) lưu trong 01 USB màu vàng nhãn hiệu Robot do cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận B đề nghị giám định có nội dung đồi trụy thuộc loại văn hóa phẩm cấm phố biến và lưu hành tại Việt Nam.
Tại bản Kết luận giám định số 1020/KL-KTHS ngày 24/4/2025 của V - Bộ C kết luận: phát hiện thấy dấu vết chỉnh sửa hình ảnh trong tệp video gửi giám định.
Hành vi của đối tượng Hoàng Sĩ Q cắt hình ảnh nhạy cảm của chị T (không mặc quần áo) đang quan hệ tình dục với L từ đoạn Video trên rồi gửi tin nhắn cho chị T kèm những lời lẽ không tôn trọng chị T. Q không phát tán đoạn Video và các hình ảnh trên cho người khác, hành vi này của Q chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự. CQCSĐT - Công an thành phố H đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Hoàng Sĩ Q về hành vi xúc phạm, lăng mạ, bôi nhọ danh dự, nhân phẩm của người khác quy định tại điểm aĐiều 7 Nghị định 114/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự bằng hình thức phạt tiền, mức phạt 2.500.000đ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo Nguyễn Văn L đã gặp và tự nguyện bồi thường dân sự cho bị hại T số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Chị T đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu L bồi thường thêm gì khác.
Tại bản cáo trạng số 95/CT-VKS ngày 27 tháng 5 năm 2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã: Truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn L theo tội danh và điều luật đã viện dẫn trong Cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất nguy hiểm do hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, đánh giá mức độ phạm tội, xem xét nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng căn cứ điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 06 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 đến 24 tháng. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FIMD X6 màu xanh.
Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn nhận tội, bày tỏ sự ăn năn, hối cải và trong lời nói sau cùng trước khi hội đồng xét xử vào nghị án bị cáo xin hội đồng xét xử cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an quận B, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ điều quan tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Văn L đã có hành vi phát tán đoạn Video quan hệ tình dục giữa bị cáo L và chị Lê Thị Minh T bằng hình thức đăng tải lên website: http//xamvn.fit. kèm theo lời bình luận hạ thấp danh dự, nhân phẩm của chị T. Bạn của chị T là Hoàng Sĩ Q sau khi xem được doạn Video trên đã nhắn tin cho chị T với lời lẽ thiếu tôn trọng dẫn đến hậu quả: danh dự, nhân phẩm của chị T bị xúc phạm; chị T cảm thấy rất xấu hổ và nhục nhã khi biết mình bị phát tán đoạn Video trên.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đã xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người trưởng thành, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ vào thời điểm phạm tội. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L đủ yếu tố cấu thành tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 2015.
Bản Cáo trạng và Lời luận tội của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình truy tố và kết luận về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm của người khác được pháp luật bảo vệ gây tổn hại về tinh thần cho người bị hại, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần có mức hình phạt nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
- - Bị cáo Nguyễn Văn L không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm
trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại số tiền 50.000.000 đồng để khắc phục thiệt hại, hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Vì vậy, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục bị cáo, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, thời hạn thử thách tương ứng với mức hình phạt cũng đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo và cũng là thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đề nghị áp dụng mức hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị cáo L đã gặp và tự nguyện bồi thường dân sự cho bị hại T số tiền là 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng). Chị T đã nhận đủ số tiền và không yêu cầu bị cáo L bồi thường thêm gì khác. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét về trách nhiệm dân sự.
[6]. Về vật chứng: Bị cáo sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FIMD X6 màu xanh để thực hiện việc phạm tội cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7]. Về án phí và quyền kháng cáo:
- - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- - Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các căn cứ, nhận định của Hội đồng xét xử,
QUYẾT ĐỊNH
[1] Về tội danh và hình phạt: Căn cứ vào điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự;
- - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Làm nhục người khác”.
- - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn L 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách là 18 (Mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn L cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hà Nội để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
“Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể
quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
[2] Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
[3] Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO FIMD X6 màu xanh.
Vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình theo Biên bản bàn giao vật chứng số 150 ngày 09/6/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
[4] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí số: 97/2015/QH13 ngày 25 tháng 11 năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm..
[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố sự năm 2015, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo những vấn đề liên quan trực tiếp trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Dương Thị Sen |
Bản án số 105/2025/HSST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (làm nhục người khác)
- Số bản án: 105/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Làm nhục người khác)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội làm nhục người khác
