Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HÀ NỘI


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 105/2025/HSPT

Ngày: 24/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

+ Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa:

Bà Đặng Thị Thanh Huyền.

+ Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Chương

Bà Đinh Thị Thu Hường

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Huỳnh Phương Minh- Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Trần Thúy Bình- Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1015/2024/HSPT ngày 01/11/2024 do có kháng cáo của bị cáo Mai Chiến T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội.

Bị cáo kháng cáo: Mai Chiến T, sinh năm: 1968; Tên gọi khác: Không. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chô ở: Số nhà G, ngõ C đường C, TDP V, phường C, quận B, thành H. Giới tính: Nam. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Ông Mai Thế S (đã chết và bà: Bà Phan Thị L, Sinh năm: 1941. Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai. Vợ: Hoàng Thị T1, sinh năm: 1982; Bị cáo có 02 con chung, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2005.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị khởi tố và áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/5/2024. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Ông Lê Văn T2, sinh năm: 1959; Nơi cư trú: Cụm I xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội, vắng mặt.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Phan Quốc B- Luật sư Công ty L1- Đoàn Luật sư Thành phố H, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm thì vụ án có nội dung như sau:

Ngày 17/01/2024, công an quận B nhận được đơn trình báo của ông Lê Văn T2 về việc ông T2 bị M Chiến Thắng lừa đảo chiếm đoạt số tiền 200.000.000 đồng thông qua việc nhận tiền để làm sổ đỏ cho ông T2 nhưng không thực hiện được, không trả lại tiền và có dấu hiệu bỏ trốn. Các lần chuyển tiền đều diễn ra tại phường X, quận B, thành phố Hà Nội có anh Nguyễn Quang V chứng kiến. (BL 27-28)

Vật chứng thu giữ: Ông Lê Văn T2 cung cấp: (BL 27)

  • - 01 đơn trình báo; 02 chứng từ giao dịch ngày 03/4/2023 và ngày 07/10/2023; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Lê Văn T2; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Mai Chiến T; 01 bản photo căn cước công dân mang tên Nguyễn Quang V.

Mai Chiến Thắng giao nộp: (BL 98-112) 01 (một) giấy nhận và hẹn trả hồ sơ. 01 (một) biên bản nghiệm thu, bàn giao sản phẩm và thanh lý hợp đồng tư vấn. 01 (một) đề nghị ký hợp đồng xác định chỉ giới đường đỏ. 01 (một) biên bản giao nhận hồ sơ. 01 (một) hợp đồng dịch vụ tư vấn. 01 (một) bản đồ hiện trạng. Tất cả các văn bản trên đều có chữ ký, ghi rõ họ tên Hoàng Thị C.

Lê Cao C1 cung cấp: (BL 119-124) 05 (năm) ảnh chụp màn hình, trang tài liệu, thẻ căn cước được in trên khổ giấy A4 màu đen trắng.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 2 năm 2023, do có nhu cầu chuyển đổi mục đích sử dụng đất mảnh đất trồng cây tại Cụm I, xã T, huyện Đ, Hà Nội, thông qua lời giới thiệu của anh Nguyễn Quang V, ông Lê Văn T2 biết đến Mai Chiến T. T giới thiệu bản thân công tác tại phòng đo đạc tại sở tài nguyên môi trường thành phố H có quen biết ông Lê Thanh N nguyên là phó giám đốc sở TNMT thành phố H nay về làm chủ tịch huyện Đ. Do đó, anh T2 đã nhờ T hoàn thiện thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng đất của mình, T đồng ý.

Khoảng cuối tháng 3 năm 2023, M Chiến Thắng dẫn theo người đến nhà ông T2 tại xã T, huyện Đ để đo đạc đất. Tại đây, sau khi đo xong 5 mảnh đất của ông T2, T chưa nhận lời giúp ngay mà nói để về kiểm tra quy hoạch xem những mảnh đất này có chuyển đổi mục đích sử dụng được hay không, ông T2 đồng ý. Lúc này, nhớ ra việc nhà bà Hoàng Thị C là người cùng xã cũng đang có nhu cầu làm sổ đỏ cho mảnh đất đang ở nên ông T2 đã dẫn T đến nhà bà C để đo đạc và đánh giá hiện trạng. Sau khi đo xong và được bà C cung cấp những giấy tờ liên quan chứng minh nguồn gốc đất, T nói với anh T2 đất nhà bà C có thể ra sổ được và đưa ra chi phí để hoàn thiện hồ sơ là 150.000.000 đồng, 50.000.000 đồng nữa gọi là chi phí đi lại, ăn uống tổng là 200.000.000 đồng, yêu cầu ứng trước 100.000.000 đồng, khi nào ra được sổ đỏ thì thanh toán nốt. Ông T2 sau đó đưa cho T 15 triệu tiền công đo đạc đất nhà ông T2 và chuyển lời T nói cho gia đình bà C biết. Ngày 02/4/2023, anh Lê Cao C1 con trai bà C chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng đến tài khoản của ông Lê Văn T2. Sau đó, ông Trung chuyển K số tiền 100.000.000 đồng cho M Chiến Thắng vào ngày 03/4/2023. Nhận được tiền, khoảng vài ngày sau, T một lần nữa đưa người về nhà bà C đo đạc đất và hướng dẫn bà C ký vào các giấy tờ liên quan do T chuẩn bị rồi lấy thêm 5.000.000 đồng tiền công đo đạc từ ông T2. Cũng trong khoảng tháng 4/2023, ông T2 bị phòng tài nguyên và môi trường huyện Đ trả hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DP 619044 và DP 619045 mang tên bà Hoàng Thị K1 vợ ông T2; Ông T2 có nhờ T can thiệp giúp thì T đồng ý. Ngày 12/7/2023, ông T2 tiếp tục nộp hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Hoàng Thị K1 như trên đến phòng tài nguyên và môi trường huyện Đ và chụp thông báo gửi cho T để T tác động giúp. Ngay hôm sau, T đến nhà ông T2 nói vừa lên huyện về và hồ sơ của ông T2 được giải quyết xong. Tin Thắng đã giúp mình nên ông T2 đưa 30.000.000 đồng tiền mặt cho T để cảm ơn. Nhưng sau đó đến ngày 17/8/2023, ông T2 tiếp tục bị trả hồ sơ nên sau đó không tin tưởng T nữa, ông T2 đã tự hoàn thiện hồ sơ để nộp và đến nay đã được cấp giấy chứng nhận cho mảnh đất mang tên bà K1. Từ thời điểm này, ông T2 nhiều lần liên lạc để hỏi về tiến độ ra sổ đối với

mảnh đất nhà bà C nhưng T không nghe máy, ra nhà T nhiều lần nhưng không gặp. Đến ngày 07/10/2023, M Chiến Thắng liên hệ với anh V, nói là thủ tục sắp xong, cần thêm 20.000.000 đồng để ra được sổ. Anh V đã nói lại với ông T2 về việc này. Nghĩ rằng số tiền 100.000.000 đồng đã chuyển cho T rồi, nếu dừng lại thì mất nên ông T2 tiếp tục chuyển cho T 20.000.000 đồng. Từ thời điểm đó, ông T2 không liên lạc được với T cũng như không thấy chính quyền địa phương thông báo gì liên quan đến việc ra sổ đỏ cho đất nhà bà C, nghĩ là mình bị lừa nên ông T2 làm đơn tố giác đến cơ quan công an. (BL 27-66, 74-128) Tại cơ quan điều tra, Mai Chiến T khai nhận toàn bộ nội dung như đã nêu trên và khai bản thân không làm việc trong cơ quan nhà nước mà hiện là giám đốc công ty cổ phần T3 mới. Mặc dù không được ủy quyền hợp pháp từ gia đình bà C, T cho rằng bản thân làm việc nhiều năm trong lĩnh vực địa chính, nắm được quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên nhận lời hoàn thiện thủ tục giúp gia đình bà C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. T thừa nhận đã tự đưa ra yêu cầu số tiền 150.000.000 đồng và 50.000.000 đồng tiền công để làm việc này. T thừa nhận đã nhận tổng số tiền 170.000.000 đồng từ ông T2 gồm: 20.000.000 đồng tiền công cho 02 lần đo đạc, tiền chi phí để hoàn thiện hồ sơ là 100.000.000 đồng nhận vào ngày 03/4/2024, 20.000.000 đồng nhận vào ngày 07/10/2023 và 30.0000.000 đồng tiền ông T2 cảm ơn vào tháng 7/2023. Từ tháng 4/2023, sau khi nhận được 100.000.000 đồng, T lập bản đồ hiện trạng mảnh đất nhà bà C, cho bà C kí bộ hồ sơ liên quan đến việc xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đưa tiền cho các cá nhân là cán bộ thuộc các đơn vị, cơ quan liên quan để hỏi về tình trạng và thông tin liên quan đến đất nhà bà C nhưng không trình bày đưa tiền cho ai, số lượng bao nhiêu. T thừa nhận chưa nộp hồ sơ cho bất kì cơ quan liên quan nào để làm các thủ tục trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nhà bà C đồng thời dùng một phần số tiền đã nhận để tiêu xài cá nhân. Đối với việc nhà ông T2 xin cấp giấy chứng nhận cho 02 mảnh đất mang tên bà Hoàng Thị K1, T khai chỉ nhờ bằng lời nói chứ không làm gì để bổ sung, hoàn thiện hồ sơ, T cũng không nói rõ là đã nhờ ai. (BL 74-112)

Ngày 12/4/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B tiến hành xác minh tại chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố Hà Nội - huyện Đ về hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ gia đình bà Hoàng Thị C tại xã T, huyện Đ, Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Thu H phó giám đốc chi nhánh cung cấp: từ tháng 3/2023 đến nay chi nhánh huyện Đ chưa tiếp nhận hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho hộ gia đình bà Hoàng Thị C trú tại xã T, huyện Đ, thành phố Hà Nội bất kỳ lần nào. (BL 138)

Ngày 12/4/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B xác minh tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện Đ về hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình bà Hoàng Thị C địa chỉ số C, xóm M, cụm E, T, Đ, Hà Nội. Đồng chí Nguyễn Văn H1 công chức địa chính xã T cung cấp: ngày 18/12/2023 UBND xã T nhận được đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu của bà Hoàng Thị C mà không qua ủy quyền cho bất kì cá nhân nào. Đơn do bà Hoàng Thị C trực tiếp nộp tại UBND xã T, UBND xã đang yêu cầu gia đình bà C hoàn thiện hồ sơ theo quy định do thực tế hồ sơ chưa đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. (BL 141)

Ngày 08/8/2024, cơ quan CSĐT - Công an quận B tiến hành xác minh quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu thuộc cấp xã và hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu số DP619045 và DP619044 của gia đình ông Lê Văn T2 và bà Hoàng Thị K1. Bà Nguyễn Thu H phó giám đốc chi nhánh cung cấp quy trình và quá trình hoàn thiện hồ sơ thủ tục cấp giấy chứng nhận số DP619044 và DP619045 cho bà Hoàng Thị K1 từ ngày 08/10/2022 đến tháng 5/2024 là có kết quả. Trong khoảng thời gian này, không có ai tên M Chiến Thắng thay gia đình ông T2 hoàn thiện hồ sơ. (BL 139-140)

Đối với vật chứng là những tài liệu giấy tờ thu giữ của bị hại ông Lê Văn T2, bị cáo Mai Chiến T và người liên quan anh Lê Cao C1 hiện lưu trong hồ sơ chuyển theo vụ án để xét xử theo quy định. (BL 27, 98-112, 119-124)

Về dân sự: Ông Lê Văn T2 đề nghị Mai Chiến T trả lại số tiền 170.000.000 đồng. (BL 35-36).

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, thành phố Hà Nội đã xử và quyết định:

Căn cứ vào Điểm c, Khoản 2, Điều 174, Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51, Điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Mai Chiến T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Chiến T 05 (Năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Ngoài ra bản án còn tuyên các quyết định khác về dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.

Không nhất trí với quyết định của án sơ thẩm, trong đơn kháng cáo đề ngày 25/9/2024 bị cáo Mai Chiến T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo đã kết luận:

Về hình thức: Kháng cáo của bị cáo là đúng về chủ thể kháng cáo và còn trong thời hạn kháng cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản,, theo điểm c, khoản 2, Điều 174- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- BLTTHS sửa bản án sơ thẩm, cụ thể:

Căn cứ vào Điểm c, Khoản 2, Điều 174, Điểm b, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự:

Tuyên bố: Bị cáo Mai Chiến T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Mai Chiến T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Người bào chữa cho bị cáo có ý kiến:

Đồng ý tội danh xét xử đối với bị cáo, tuy nhiên mức hình phạt 5 năm tù là quá nghiêm khắc. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo và gia đình đã tự nguyện trả lại số tiền 170 triệu đồng cho bị hại để khắc phục hậu quả. Về nhân thân: trước khi phạm tội bị cáo chưa có tiền án tiền sự, chấp hành tốt quy định pháp luật tại địa phương, bị cáo là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi mẹ già yếu, không có khả năng lao động, gia đình bị cáo có

công với cách mạng. Ngày 19/8/2024 bị hại ông Lê Văn T2 có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b, s khoản 1, khoản 2, Điều 51; khoản 1, Điều 54; khoản 1, Điều 174- Bộ luật hình sự, cho bị cáo mức hình phạt thấp hơn mức hình phạt 5 năm tù.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:

Quá trình điều tra, truy tố, các cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình xét xử sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu bị hại là bà Hoàng Thị C, nhưng bà C đã được bồi thường đầy đủ và không có yêu cầu đề nghị gì. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định thiếu người tham gia tố tụng là vi phạm thủ tục tố tụng, tuy nhiên quá trình điều tra cho đến trước khi mở phiên tòa hôm nay, không có người tham gia tố tụng nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử phúc thẩm cũng đã triệu tập bà C đến phiên tòa nhưng bà cũng không đến, nên Tòa án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

Kháng cáo của bị cáo là còn trong thời hạn kháng cáo và đúng về chủ thể kháng cáo nên được chấp nhận.

[2] Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo thừa nhận thực hiện hành vi như án sơ thẩm đã nêu, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các tài liệu khác có trong hồ sơ nên có đủ cơ sở để khẳng định:

Trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 10/2023, M Chiến Thắng mặc dù không nộp hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của hộ gia đình bà Hoàng Thị C và gia đình ông Lê Văn T2 với bất kỳ cơ quan có liên quan nào nhưng M Chiến Thắng vẫn nói dối với các bị hại là đã nhờ can thiệp tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đ xong, để gia đình các bị hại tin tưởng chuyển tiền cho bị cáo và chiếm đoạt của bà Hoàng Thị C thông qua

ông Lê Văn T2 là 120 triệu đồng, chiếm đoạt ông Lê Văn T2 là 50 triệu đồng, tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt là 170 triệu đồng nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm d, khoản 2, Điều 170- Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét tính chất vụ án, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo như: Bị cáo phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải, đã khắc phục toàn bộ hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo từ đó xử phạt bị cáo mức án 05 năm tù là có phần nghiêm khắc. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo xuất trình bổ sung tài liệu thể hiện bố bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất, mẹ bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba và Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, bị cáo vẫn thành khẩn khai báo, nhân thân không có tiền án, tiền sự nên có thể chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo và đảm bảo phòng ngừa chung.

[3] Về án phí: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[4] C¸c phần kh¸c cña bånn s¬ thÈm không cã không co, kh¸ng nghÞ Hội đồng xét xử không xem xét. V× c¸c lÏ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Áp dụng điểm b, khoản 1, Điều 355; điểm c, khoản 1, Điều 357- Bộ luật tố tụng hình sự: Sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 233/2024/HSST ngày 19/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, Thành phố Hà Nội, cụ thể:

1.1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Mai Chiến T phạm tội “Lừa đảo tài sản"

1.2- Về hình phạt: Áp dụng điểm c, Khoản 2, Điều 174, Điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điểm g, khoản 1, Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Bị cáo Mai Chiến T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về án phí: Áp dụng Điều 136- Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo không phải chịu ng án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - CA, VKSND, Chi cục THADS, TAND quận Bắc Từ Liêm, TP Hà Nội.
  • - VKSND TP Hà Nội;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại, người bào chữa cho bị cáo;.
  • - UBND nơi bị cáo cư trú;
  • - Lu HS,VP.

TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HSPT ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 105/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger