Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày 30-5-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Hữu Trường

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Hồng Thúy

Ông Nguyễn Nam Tuấn

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Phạm Hà Vy - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 05 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị Thu L sinh ngày 01/7/1973; nơi cư trú: Số E B, phường C, quận H, thành phố Hà Nội; nơi ở: Tầng A, phòng 04, tháp B Chung cư S, số C L, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Tổng giám đốc Công ty T; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Công S và bà Nguyễn Thị H; có chồng là Hà Mạnh H1, có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/12/2024; có mặt;
  2. Nguyễn Thùy L1, sinh ngày 24/5/1983 tại Hà Nội; nơi cư trú: Số A T, tổ B phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội, nơi ở: Số I ngách A T, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Nguyên Kế toán trưởng Công ty T; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Lan P; có chồng là Nhữ Minh Đ và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/12/2024; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H điều tra, giải quyết vụ án hình sự về các tội Mua bán trái phép hóa đơn, Trốn thuế xảy ra tại Công ty TNHH S1 (Công ty S1), đã phát hiện hành vi mua bán trái phép hóa đơn GTGT để trốn thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty CP T (Công ty T) có địa chỉ trụ sở tại: số B đường T, phường B, quận T, thành phố Hà Nội (thành lập và hoạt động theo Giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh số 0102624215 do Sở K cấp, đăng kí lần đầu ngày 21/01/2008, đăng kí thay đổi lần thứ 34 ngày 08/03/2024). Ngành nghề kinh doanh chính là kinh doanh khám chữa bệnh. Đại diện theo pháp luật là Nguyễn Thị Thu L, Tổng giám đốc.

Trong khoảng thời gian từ năm 2019 - 2020, Công ty T phát sinh chi phí bồi thường cho bệnh nhân và một số chi phí khác không có hóa đơn chứng từ, không được khấu trừ và hoàn thuế. Nguyễn Thùy L1 là kế toán trưởng của Công ty T đã báo cáo Nguyễn Thị Thu L về việc mua hóa đơn GTGT dịch vụ du lịch để hợp thức hóa các chi phí đầu vào, được khấu trừ thuế thu nhập doanh nghiệp. L đồng ý.

Sau đó, L1 vào nhóm chat Zalo “Cộng đồng kế toán tư vấn” liên lạc với đối tượng tên N (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) trao đổi về việc mua hóa đơn GTGT của Công ty S1 với giá 6% (chưa gồm thuế). Việc đảo tiền mua hóa đơn, L1 yêu cầu Công ty S1 phải tự chuyển tương ứng với giá trị hàng ghi trên hóa đơn vào tài khoản của Công ty T, rồi Công ty T chuyển lại tiền cho Công ty S1, phí mua hóa đơn sẽ trả sau.

Công ty T đã mua 02 tờ hóa đơn GTGT của Công ty S1 (hóa đơn số 0000341 ngày 28/7/2020 trị giá 1.777.545.000 đồng; hóa đơn số 0000355 ngày 10/8/2020, trị giá 449.955.000 đồng. Tổng giá tiền hàng trên hóa đơn là 2.227.500.000 đồng (bao gồm thuế), tiền mua hóa đơn là 121.500.000 đồng. Để hợp thức hóa việc mua bán hóa đơn, Công ty T và Công ty S1 đã ký hợp đồng thuê riêng dịch vụ tàu Scarlet Pearl Cruise với số lượng 500 người, đơn giá 4.050.000 đồng/khách. N đưa tiền cho kế toán của Công ty T nộp vào tài khoản của Công ty S1. Sau đó, Nguyễn Thị Vân A là kế toán của Công ty S1 rút tiền, trừ phí mua bán hóa đơn, còn trả lại cho Công ty T.

Sau khi mua được hóa đơn, Công ty T đã kê khai 02 hóa đơn GTGT trên để báo cáo, quyết toán thuế quý 3/2020, kê khai hạch toán chi phí trên hồ sơ khai thuế TNDN năm 2020 và được khấu trừ số tiền 445.500.000 đồng.

Tại Kết luận giám định ngày 26/10/2024 của Giám định viên Cục T1 kết luận: Công ty T sử dụng 02 hóa đơn GTGT mua khống để kê khai và hạch toán chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế với tổng số tiền 2.227.500.000 đồng; thuế TNDN phải nộp là 445.500.000 đồng. Số thuế TNDN trốn là 445.500.000 đồng (bút lục: 1607-1614).

Hành vi mua bán hóa đơn của Công ty S1 và các đối tượng liên quan đã bị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử ngày 24/12/2024 (Bản án số 266/HSST).

Quá trình điều tra vụ án hình sự về các tội Mua bán trái phép hóa đơn, Trốn thuế xảy ra tại Công ty TNHH S1, Công ty T đã xuất toán hai tờ hóa đơn trên và nộp bổ sung thuế TNDN vào ngân sách nhà nước ngày 07/4/2023.

Tại bản cáo trạng số 98/CT-VKSHP-P3 ngày 13 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Thu L, Nguyễn Thùy L1 về tội Trốn thuế, quy định tại khoản 2 Điều 200 BLHS.

Tại phiên tòa các bị cáo L và L1 khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, việc truy tố, xét xử các bị cáo là không oan, bị cáo L khẳng định lời khai của mình tại phiên toà hôm nay là hoàn toàn đúng, bị cáo L và bị cáo L1 đã mua và sử dụng 02 tờ hóa đơn GTGT của Công ty S1 để kê khai, báo cáo, quyết toán thuế, đã trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, không nộp ngân sách nhà nước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng phân tích hành vi phạm tội, đánh giá tính chất vụ án, nêu tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 200; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thị Thu L từ 500.000.000 đồng đến 600.000.000 về tội Trốn thuế.
  • Bị cáo Nguyễn Thùy L1 từ 500.000.000 đồng đến 550.000.000 về tội Trốn thuế.
  • Về xử lý vật chứng: 02 tờ hóa đơn GTGT của Công ty T mua của Công ty S1 chuyển theo hồ sơ vụ án đề nghị lưu hồ sơ vụ án.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo nhận thức hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Lời khai của các bị cáo tại phiên toà và tại Cơ quan điều tra phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ căn cứ xác định: Trong khoảng thời gian từ năm 2019 - 2020, Nguyễn Thị Thu L, N1 Tổng Giám đốc và Nguyễn Thùy L1, N1 Kế toán trưởng của Công ty T đã có hành vi mua và sử dụng 02 tờ hóa đơn GTGT của Công ty S1 để kê khai, báo cáo, quyết toán thuế, đã trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, không nộp ngân sách nhà nước với số tiền là 445.500.000 đồng (bốn trăm bốn mươi lăm triệu năm trăm ngàn đồng). Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thu L và bị cáo Nguyễn Thùy L1 đã phạm tội Trốn thuế, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 200 BLHS.
  3. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh, điều khoản và khung hình phạt là hoàn toàn có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
  4. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến các quy định của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, tài chính, cụ thể hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách Nhà nước, gây thiệt hại cho lợi ích của xã hội, của Nhà nước. Vì vậy, việc đưa các bị cáo ra xét xử là cần thiết để giáo dục và răn đe phòng ngừa chung.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo “thành khẩn khai báo”, các bị cáo đã chủ động nộp lại toàn bộ số tiền trốn thuế nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  7. Về vai trò của các bị cáo và hình phạt: Trong vụ án này L1 là kế toán Công ty T đã có hành vi tham mưu cho L là Tổng Giám đốc của Công ty T mua hoá đơn để kê khai, báo cáo, quyết toán thuế, trốn thuế thu nhập doanh nghiệp, không nộp ngân sách nhà nước. L1 cũng là người chủ động liên hệ với bên bán Hoá đơn để mua, sau đó hợp thức hoá các thủ tục kê khai trốn thuế. Tuy nhiên, L1 không được hưởng lợi gì, mục đích để Công ty T giảm số tiền nộp thuế. L với vai trò là Tổng giám đốc, đã đồng ý để L1 đi mua Hoá đơn. Do vậy L chịu trách nhiệm với vai trò người đứng đầu, nên L có vai trò cao hơn L1.
  8. Tội trốn thuế là loại tội nằm trong chương các tội xâm phạm về trật tự quản lý kinh tế, khách thể xâm phạm của loại tội này là việc quản lý kinh tế của Nhà nước, bản thân các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo L và bị cáo L1 đều có đơn đề nghị xin phạt tiền và đã chủ động nộp tiền, bị cáo L đã nộp 550.000.000, bị cáo L1 đã nộp 500.000.000 đồng vào Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Nên cần chấp nhận đề nghị của các bị cáo, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo L và bị cáo L1.
  9. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính nên không áp dụng hình phạt bổ sung với các bị cáo.
  10. Về xử lý vật chứng: 02 tờ hóa đơn GTGT của Công ty T mua của Công ty S1 là tài liệu, chứng cứ cần lưu hồ sơ vụ án.
  11. Về số tiền trốn thuế: Đối với số tiền trốn thuế là 445.500.000 đồng Công ty T đã nộp bổ sung vào Ngân sách Nhà nước, nên không xem xét truy thu số tiền này.

- Về vấn đề khác

  1. Đối với đối tượng tên N môi giới cho L1 mua bán hóa đơn của Công ty S1, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên không có cơ sở để điều tra.
  2. Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 200; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự:

    Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thu L và bị cáo Nguyễn Thùy L1 phạm tội Trốn thuế.

    Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thị Thu L 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 550.000.000 đồng (năm trăm năm mươi triệu đồng) đã nộp theo biên lai số 0001803 ngày 16/5/2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

    Phạt tiền bị cáo Nguyễn Thùy L1 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồn.). để sung ngân sách Nhà nước nhưng được trừ vào số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) đã nộp theo biên lai số 0001801 ngày 16/5/2025 tại Cục thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng.

    Căn cứ Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, huỷ bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp tạm hoãn xuất cảnh đối với các bị cáo Nguyễn Thị Thu L và bị cáo Nguyễn Thùy L1.

  2. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ quốc hội: Bị cáo L và bị cáo L1, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC; VKSNDCC;
  • - Vụ 1 - TANDTC;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - PV06 Công an TP Hải Phòng;
  • - Cục THADS TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo; Trại tạm giam;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Phòng KTNV và THA;
  • - Lưu: HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Trường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (trốn thuế)

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trốn thuế)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạt tiền 550.000.000 đồng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger