trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Án lệ về tranh chấp tài sản thừa kế
  • search Thời hạn nộp thuế doanh nghiệp năm 2026
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

QUẬN LIÊN CHIỂU, TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày: 28/6/2025

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

---------------

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình

Ông Phạm Hồng Quang

- Thư ký phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thùy – Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Trương Công Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 93/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:

Lê Quốc C, sinh ngày 19/5/1974 tại Thành phố Hà Nội; Nơi cư trú: Tổ F, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn P (chết) và bà Nguyễn Thị C1 (chết); có vợ là bà Lê Thị T (sinh năm 1979).

Tiền án:

  • Ngày 11/9/1993 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 06 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Chưa thi hành xong phần dân sự của bản án);
  • Ngày 16/11/1998 bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” (Chưa thi hành xong phần dân sự của bản án);
  • Ngày 25/11/2016 bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Ngày 27/3/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 năm tù về tội “Cướp tài sản”;

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ ngày 12/3/2025, tạm giam ngày 15/3/2025. Có mặt.

- Bị hại:

  • Ông Trần Ninh P1, sinh năm 1996; Trú tại: Tổ G, thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
  • Bà Đinh Thị L, sinh năm 1959; Trú tại: K T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Lê Đình N, sinh năm 1969; trú tại: Thôn D, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • Ông Trần Văn H, sinh năm 1971; trú tại: A N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
  • Ông Phạm T1, sinh năm 1958; trú tại: K T, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Quốc C là đối tượng không có công việc ổn định. Để có tiền tiêu xài, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của người khác, C đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài cá nhân cụ thể như sau:

- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 02 giờ ngày 11/02/2025, Lê Quốc C mang theo đoản sắt (dùng để bẻ khóa) đang đi bộ ngang qua dãy phòng trọ thuộc tổ G, thôn A, xã H, huyện H, TP ., thấy bên trong có nhiều xe mô tô không có người trông coi nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. C đi vào dãy trọ dắt trộm xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen, biển kiểm soát 74D1-289.89 của ông Trần Ninh P1 đang để tại đây rồi nhanh chóng ngoài. Sau đó, C dùng đoản sắt bẻ khóa khởi động xe mô tô 74D1-289.89 rồi nhanh chóng tẩu thoát. Sau khi lấy trộm tài sản, C lấy biển số 43R1-9014 nhặt được trước đó thay thế vào chiếc xe mô tô 74D1-289.89 vừa trộm được và sử dụng làm phương tiện đi lại, còn biển số xe 74D1-289.89 Cường vứt đi nhưng không nhớ rõ địa chỉ cụ thể. Sau khi phát hiện mất trộm tài sản, anh Trần Ninh P1 đã trình báo cơ quan Công an. Đến giữa tháng 02/2025, C đến nhà ông Lê Đình N tại thôn D, xã H, huyện H, TP . để chơi. Tại đây, C nói xe mô tô 43R1-9014 là của C mất giấy tờ xe, hỏi N bán xe mô tô này nhưng do xe không có giấy tờ nên N không đồng ý mua. Sau đó C gửi xe lại tại nhà N. Sau nhiều lần liên lạc cho C đến nhận lại xe nhưng không được thì ông N sử dụng xe máy trên làm phương tiện đi lại. Đến ngày 17/3/2025, khi ông N đang điều khiển chiếc xe mô tô gắn BKS 43R1- 9014 đi đến khu vực thôn P, xã H, huyện H, TP . thì anh Trần Ninh P1 phát hiện giữ xe và trình báo Công an xã H làm việc. Ngày 05/5/2025, Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự quận L kết luận định giá tài sản số: 26/KL-HĐĐGTS, xác định: Giá trị xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen biển kiểm soát 74D1-289.89, số máy: E3X9E703430, số khung: 3210KY319276 là 11.072.000 đồng

- Vụ thứ hai: Khoảng 20 giờ ngày 10/3/2025, sau khi đi nhậu về Lê Quốc C đi bộ đến trước số nhà B đường N, phường H, quận L, TP . thì thấy xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xám đen, BKS 43F1-236.36 của bà Đinh Thị L để trên vỉa hè không có người trông coi nên C nảy sinh ý định chiếm đoạt xe mô tô này. C tiến lại gần, lấy đoản sắt giấu sẵn trong người ra bẻ khóa, nổ máy xe rồi nhanh chóng điều khiển xe tẩu thoát. Đến khoảng 08 giờ ngày 11/3/2025, C mang xe mô tô trên đến tiệm sửa xe của anh Trần Văn H tại địa chỉ số A đường N, phường H, L để sửa lại ổ khóa thì được H hẹn chiều lấy xe. Sau khi bị mất trộm tài sản, bà L trình báo cơ quan Công an. Đến chiều cùng ngày, Cơ quan điều tra triệu tập C đến làm việc và C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngày 13/3/2025, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận L có Bản kết luận định giá tài sản số: 15/KL-HĐĐGTS, kết luận: Giá trịchiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, BKS 43F1-236.36 màu xám đen, số khung C6JOFY13861, số máy 5C6J138267 là 8.000.000 đồng.

Tổng tài sản Lê Quốc C trộm cắp của ông P1, bà L là 19.072.000 đồng.

Vật chứng tạm giữ: 01 xe mô tô BKS 43F1-236.36; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha 3210KY319276, số máy: E3X9E703430 Sirius, màu đen, số khung: 01 biển kiểm soát 43R1-0914; 01 tay vặn chữ L và 01 cần siết tự động.

Xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu xám đen, BKS 43F1-236.36, số khung C6JOFY13861, số máy 5C6J138267. Quá trình điều tra xác định chiếc xe mô tô trên do ông Phạm T1 (là chồng của bà L) đứng tên chủ sở hữu. Ông T1 giao xe cho vợ là bà L để làm phương tiện đi lại. Do đó, ngày 09/4/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định xử lý trả lại cho ông T1.
  • Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha - Sirius, màu đen, BKS 74D1- 289.89, số khung: 3210KY319276, số máy: E3X9E703430. Chiếc xe trên do ông Trần Ninh P1 đứng tên chủ sở hữu. Ngày 05/5/2025, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Đ ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe mô tô trên cho ông P1.

Tại bản cáo trạng số: 80/CT-VKSLC ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Quốc C về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Quốc C từ 03 năm đến 04 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 tay vặn chữ L và 01 cần siết tự động.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận diễn biến vụ án đúng như cáo trạng đã đề cập. Bị cáo không có ý kiến gì về mặt tội danh cũng như điều luật mà đại diện Viện kiểm sát truy tố và đề nghị áp dụng, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Những người bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì. Bị hại ông Trần Ninh P1 có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có căn cứ xác định: Ngày 11/02/2025, tại tổ G thôn A, xã H, huyện H, thành phố Đà Nẵng, Lê Quốc C có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 74D1- 289.89 của ông Trần Ninh P1 trị giá 11.072.000 đồng. Ngày 10/3/2025, tại trước số nhà B đường N, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, Lê Quốc C có hành vi lén lút trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 43F1-236.36 của bà Đinh Thị L trị giá 8.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 19.072.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tái phạm nguy hiểm theo bản án số: 123/2016/HSST ngày 25/11/2016 của Tòa án nhân dân quận Hải Châu chưa được xóa án tích, nay lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết định khung là “Tái phạm nguy hiểm” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 80/CT-VKSLC ngày 16 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện hai lần trộm cắp tài sản, giá trị tài sản trộm cắp của mỗi lần đều trên 2.000.000 đồng nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; được bị hại là ông Trần Ninh P1 đề nghị giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Xét hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an của xã hội, gây hoang mang lo lắng trong quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã rất nhiều lần bị Tòa án xử phạt nhưng không lo tu dưỡng bản thân để làm người lương thiện mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó cần thiết xét xử bị cáo mức án nghiêm minh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian phù hợp mới có tác dụng giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại là ông Trần Ninh P1, bà Đinh Thị L đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với các tài sản bị chiếm đoạt là 02 xe mô tô, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho các chủ sở hữu là có căn cứ.

Đối với 01 biển kiểm soát 43R1-0914. Quá trình điều tra xác định người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô gắn biển số nêu trên là ông Phạm Ngọc C2 (Sinh năm 1963; Trú tại: Kiệt B đường P, phường P, quận H, TP Đà Nẵng). Quá trình điều tra xác định vào năm 2014, ông C2 đã bán chiếc xe có gắn biển kiểm soát 43R1-0914 cho một người thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch). Do đó, Cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ, điều tra, xử lý sau là có căn cứ,

Đối với vật chứng là 01 tay vặn chữ L và 01 cần siết tự động không có giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[8] Về các vấn đề có liên quan: Đối với ông Lê Đình N là người được bị cáo Lê Quốc C hỏi bán xe và gửi xe mô tô biển kiểm soát 43R1-0914 tại nhà mình. Quá trình điều tra xác định ông N chỉ biết đây là xe của C bán và gửi lại nhà mình chứ không biết được đây là tài sản do C trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ. Đối với ông Trần Văn H là người sửa xe mô tô biển kiểm soát 74F1-236.36 cho bị cáo C. Quá trình điều tra xác định khi nhận lời sửa xe cho C, ông H không biết đây là tài sản do C trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ: điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt bị cáo Lê Quốc C 03 (ba) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bị bắt, tạm giữ ngày 12/3/2025.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) tay vặn chữ L và 01 (một) cần siết tự động.

(Toàn bộ vật chứng hiện Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/6/2025).

3. Về án phí: Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Quốc C phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • VKSND quận Liên Chiểu;
  • VKSND TP. Đà Nẵng;
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an T;
  • Chi cục THA dân sự quận L;
  • Trại tạm giam Công an thành phố Đ;
  • Những người tham gia tố tụng;
  • Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Anh T2

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 28/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Quốc C trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger