|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8- BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2025/HS- ST Ngày 26-12- 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hợp.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Phú- Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
Bà Nguyễn Thị Mận- Nghề nghiệp: Giáo viên nghỉ hưu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Cẩm Vân– Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2025/TLST- HS ngày 08 tháng 12 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2025/ QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Đ T, sinh ngày 18/6/2009 (tính đến ngày thực hiện Hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 03 tháng 12 ngày).
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; con ông: Nguyễn Đăng T và bà Phạm Ngọc H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị tạm giữ từ ngày 01/10/2025 đến ngày 10/10/2025, được huỷ bỏ biện pháp tạm giữ, áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại, có mặt tại phiên toà.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo:
Bà Phạm Ngọc H, sinh năm 1987 (mẹ đẻ bị cáo T). Có mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
- Người bào chữa của bị cáo:
Ông Nguyễn Văn H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Bắc Ninh số 2. Có mặt.
- Đại diện Đoàn thanh niên: Chị Nguyễn Thị Q- Chức vụ: Bí thư đoàn phường P, tỉnh Bắc Ninh. Đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị hại: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố N, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 2004. Vắng mặt.
Địa chỉ: Tổ dân phố Q, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 30/9/2025, Công an phường P tiếp nhận đơn trình báo của anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1997, đăng ký hộ khẩu thường trú tại khu phố N, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh, với nội dung: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 30/9/2025, tại quán Internet Pudin ở khu phố Mao Dộc, phường P, tỉnh Bắc Ninh, anh C bị kẻ gian trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax, màu trắng, bản 256G.
Khoảng 23 giờ 00 phút cùng ngày, Công an phường P phối hợp với Công an xã Tiên Du tiến hành kiểm tra Nguyễn Đ T, sinh ngày 18/6/2009, HKTT: TDP T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình kiểm tra, phát hiện trên người T có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12Promax, màu trắng, bản 256G, số imei 356713117713501. T khai nhận đây là điện thoại T đã trộm cắp của anh C tại quán Internet Pudin ngày 30/9/2025 và đang trên đường mang đến cho anh C chuộc lại với giá 2.000.000 đồng thì bị phát hiện.
Lực lượng Công an đã tiến hành đưa Nguyễn Đ T về trụ sở để làm việc và bàn giao cho Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh để giải quyết theo quy định.
Ngày 01/10/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Đ T.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo và chứng cứ, tài liệu do Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh thu thập có trong hồ sơ vụ án xác định:
Khoảng 19 giờ ngày 29/9/2025, Nguyễn Đ T vào quán Internet Pudin ở khu phố Mao Dộc, phường P, tỉnh Bắc Ninh chơi. Đến khoảng 04 giờ 40 phút ngày 30/9/2025, do hết tiền tiêu sài nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T phát hiện ở giường phía sau lưng chỗ T ngồi có một chiếc điện thoại di động đang sạc pin, trên giường có người đang nằm ngủ, nên T đứng dậy, tiến lại gần và lấy chiếc điện thoại đút vào túi quần phía trước bên phải T đang mặc trên người rồi đi bộ về kiot chợ của chị Phạm Ngọc H, sinh năm 1987, đăng ký hộ khẩu thường trú tại Tổ dân phố T, phường Đ, tỉnh Bắc Ninh (là mẹ đẻ của T) thuộc phường Q, tỉnh Bắc Ninh, lên gác xép để nghỉ.
2
Đến 11 giờ 30 phút cùng ngày T đi xe buýt đến bến xe Bắc Ninh rồi bắt xe khách đi Ninh Bình tìm việc làm. Khi đang đợi xe buýt thì thấy màn hình điện thoại của anh C hiện tin nhắn “Mày biết điều thì trả tao điện thoại đừng để tao báo Công an thì mày đừng trách”. Thấy vậy T ấn gọi lại ở màn hình gặp anh C nghe điện. T yêu cầu anh C chuyển khoản cho T 2.000.000 đồng thì Trả lại điện thoại. Sau khi thỏa thuận, T đồng ý để anh C trả 1.500.000 đồng và hẹn đến chiều cùng ngày sẽ gửi số tài khoản và gửi vị trí chiếc điện thoại để C ra lấy.
Sau đó, T đi xe buýt đến địa phận xã Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh, thì xuống xe và đến một quán Internet ngồi đợi anh C đến chuộc điện thoại. Đến 23 giờ 30 phút ngày 30/9/2025, khi đang đi bộ trên đường tại khu vực xã Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thì T bị lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, phát hiện, thu giữ tài sản trộm cắp như đã nêu ở trên.
Trên cơ sở Yêu cầu định giá tài sản của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh, tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của UBND phường P kết luận:
“ 01 điện thoại di động iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 256Gb, số IMEI 356713117712501 (đã qua sử dụng) thời điểm định giá tháng 9/2025, trị giá 11.000.000 đồng ”.
Bản cáo trạng số 45/CT- VKS ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Đ T về tội “ Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận Hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố. Đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của Hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đại diện VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh đã đề nghị HĐXX:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12; Điều 115; khoản 1 Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật Tư pháp người chưa Thành niên năm 2024. Xử phạt Nguyễn Đ T từ 05 tháng tù đến 07 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 12 tháng đến 14 tháng. Giao bị cáo cho UBND phường Đ, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Bắc Ninh truy tố bị cáo là đúng quy định của pháp luật, bị cáo có nhân thân tốt, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Đại diện Đoàn thanh niên phường P vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra đã có đầy đủ lời khai lưu tại hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của pháp luật.
- Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là thành khẩn, phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 40 phút ngày 30/9/2025, tại quán internet Pudin thuộc khu phố Mao Dộc, phường P, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Đ T đã có Hành vi lén lút Trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 256Gb trị giá 11.000.000 đồng của anh Nguyễn Văn C. Tài sản đã được thu hồi trả cho chủ sở hữu. Cáo trạng số 45/CT- VKS- KV8 ngày 02/12/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8- Bắc Ninh truy tố bị cáo Nguyễn Đ T về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
- Xét Tính chất vụ án: Bị cáo thực hiện Hành vi phạm tội với lỗi cố ý, Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây mất Trật Tự trị an tại địa phương. Vì vậy, phải có mức hình phạt Tương xứng với Hành vi của bị cáo đã gây ra, mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
- Xét về nhân thân, các tình tiết Tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, HĐXX nhận thấy:
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.
Về tình tiết Tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết Tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng Luật Tư pháp người chưa Thành niên năm 2024 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng. Vì vậy, không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành người tốt. Giao cho UBND phường Đ, tỉnh Bắc Ninh nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
- Về hình phạt bổ sung: Khi phạm tội bị cáo là người dưới 18 tuổi nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.
- Về vật chứng vụ án và các biện pháp tư pháp:
- - Đối 01 (một) USB lưu trữ dữ liệu điện tử có thông tin, hình ảnh liên quan đến vụ việc được trích xuất từ hệ thống camera an ninh của quán Internet Pudin do anh Nguyễn Xuân Đ, sinh năm 2004, trú tại khu phố Q, phường Q là quản lý của quán Internet Pudin tự nguyện giao nộp. Chiếc USB này hiện được lưu trong hồ sơ vụ án cần được tiếp tục lưu giữ.
- - Đối với 01 điện thoại di động iphone 12 Promax, màu trắng, dung lượng 256Gb thu giữ của Nguyễn Đ T, ngày 17/10/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bắc Ninh đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Văn C xét thấy là phù hợp.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại; người bào chữa của bị cáo; đại diện hợp pháp cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát ở tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đ T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
- Về xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Không xem xét.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136- BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Buộc bị cáo Nguyễn Đ T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí HSST.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, người bào chữa của bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12; khoản 1 Điều 119; Điều 124; Điều 179 Luật Tư pháp người chưa Thành niên năm 2024.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đ T 05 (năm) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Đ T.
Giao bị cáo Nguyễn Đ T cho UBND phường Đ, tỉnh Bắc Ninh nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi Hành án hình sự 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp Hành hình phạt Tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật Thi Hành án hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Hợp |
6
Bản án số 105/2025/HS- ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về hình sự về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 105/2025/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T
