TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/HS-ST Ngày: 25/6/2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Đức Anh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Trần Thị Ngọc Thanh
Bà Đỗ Thị A
- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Quốc Bảo – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 tham gia phiên tòa:
Ông Hoàng Văn Hoan - Kiểm sát viên
Trong ngày 25 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
1. Họ và tên: Huỳnh Ngọc N; Giới tính: Nữ; Sinh ngày: 24/02/1983; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi thường trú: A B, phường P, Quận A, TP . Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Như trên; Trình độ học vấn: 6/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quan hệ gia đình: Cha: Mai Hoàng M, (chết); Mẹ: Huỳnh Ngọc H, sinh năm: 1961, còn sống; Chồng: Nguyễn Xuân L, sinh năm 1983; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/6/2024 tại Trại tạm giam C- Phân trại Khu vực Quận A. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Văn B; Giới tính:Nam; Sinh ngày: 21/12/1975; Tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký thường trú: C N, Phường I, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Không nơi cư trú nhất định;
Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quan hệ gia đình: Cha: Nguyễn Văn N1, sinh năm:1952, còn sống; Mẹ: Không rõ; Vợ: Khúc Thị H1, sinh năm 1974;Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/6/2024 tại Trại tạm giam C- Phân trại Khu vực Quận A
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 12 giờ ngày 05/6/2024 tại đầu hẻm B H, Phường A, Quận A, Tổ tuần tra Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an Q phát hiện Nguyễn Văn B, điều khiển xe máy, biển số: 67V2-0313 có biểu hiện nghi vấn nên mời về trụ sở Công an P, Quận A kiểm tra hành chính. Qua kiểm tra phát hiện tại baga xe máy, biển số 67V2-0313 của B có một vỏ bao thuốc lá hiệu “ESSE”, bên trong có 01 gói nylon chứa tinh thể. B khai nhận số tinh thể trên là ma túy của B mang đi bán cho người nghiện. Công an P, Quận A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Văn B, chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q điều tra theo thẩm quyền.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất tinh thể thu giữ của Nguyễn Văn B. Kết luận giám định số 6867/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: “Tinh thể ký hiệu mẫu m cần giám định là ma tuy ở thể rắn có khối lượng: 4,3188 gram, loại Methamphetamine”. (BL 48).
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra, Nguyễn Văn B khai nhận số ma túy Công an thu giữ là của Huỳnh Ngọc N, địa chỉ A B, phường P, Quận A, TP . đưa cho B mang đi giao cho người mua tại đường H, Quận A.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q thi hành lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Ngọc N tại nhà số A, đường B, phường P, Quận A, TP . Hồ Chí Minh. Qua khám xét phát hiện, thu giữ: 05 gói nylon chứa thảo mộc khô; 05 (năm) gói nylon chứa tinh thể trên nệm phòng ngủ, lầu 2; 01 gói nylon chứa tinh thể trên gác lửng tại lầu 2; 01 gói nylon chứa thảo mộc tại lầu 1; 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Huỳnh Ngọc N khai nhận toàn bộ số tinh thể, thảo mộc khô là ma túy của N cất giữ để bán cho người nghiện kiếm lời.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q trưng cầu giám định chất tinh thể và thảo mộc khô thu giữ của Huỳnh Ngọc N. Kết luận giám định số 6918/KL-KTHS ngày 13/6/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận:
“Gói 1: Thảo mộc khô trong 05 gói nylon có tổng khối lượng 355,10g, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA
Gói 2: Tinh thể trong 05 gói nylon có tổng khối lượng: 6,2041 gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Gói 3: Tinh thể chứa trong 01 gói nylon có khối lượng: 11,7479 gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine.
Gói 4: Thảo mộc khô chứa trong 01 gói nylon, có khối lượng 1,9925g, tìm thấy MDMB-4e-PINACA.
Ghi chú: MDMB-4en-PINACA có số thứ tự 241, mục IIC, Danh mục II, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 25/8/2022 quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Thảo mộc khô đã được tẩm ướp chất MDMB-4en- PINACA. Khối lượng mẫu gửi giám định là khối lượng bao gồm cả thảo mộc khô. Để xác định khối lượng của loại ma túy nêu trên cần thực hiện giám định hàm lượng. Hiện tại Phòng PC09 không có mẫu chuẩn định lượng MDMB-4en-PINACA”. (BL 63)
Tại Cơ quan điều tra bị can Huỳnh Ngọc N khai nhận bắt đầu bán ma túy vào khoảng đầu tháng 5/2024. Nguồn gốc ma túy bị tạm giữ khi khám xét và gói ma túy N đưa cho B đi bán là do N mua trực tiếp của một người đàn ông tên M (không rõ lai lịch) tại đầu hẻm H B, phường P, Quận A, TP . vào ngày 03/6/2024 với giá 2.000.000 đồng. N và B là hàng xóm của nhau, khi có người mua túy N đưa B đi giao ma túy cho N, mỗi lần giao bán thành công N trả cho B 50.000 đồng. Khoảng 11 giờ ngày 05/6/2024 N nhận được điện thoại của người đàn ông tên K (không rõ nhân thân lai lịch) hỏi mua 1.500.000 đồng ma túy đá, hẹn giao ma túy tại trước số B H, Phường A, Q, TP .. N đồng ý. Sau đó N gọi điện cho B qua nhà N lấy ma túy đi giao cho người tên K tại địa chỉ trên. Lần giao ma túy này N chưa trả tiền công cho B, đây là lần thứ hai B đi giao ma túy cho N. Lần đầu vào khoảng 19 giờ 45 ngày 03/6/2024 B đi giao gói ma túy đá với giá 200.000 đồng cho người đàn ông tên T (không rõ lai lịch) tại khu vực C, Quận A, N đã trả công cho B 50.000 đồng. N đã thu lợi bất chính từ việc bán ma túy được khoảng 600.000 đồng.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q, bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận hành vi phạm tội như trên, phù hợp với lời khai của Huỳnh Ngọc N. B đã hai lần đi giao ma túy cho N. Lần đầu vào ngày 03/6/2024 giao cho một người đàn ông không rõ lai lịch tại C, Quận A và được N trả công 50.000 đồng, số tiền này B đã tiêu xài cá nhân hết. Lần 02 vào ngày 05/6/2024 khi đang đi giao ma túy cho người ở khu vực đường H, Quận A thì bị bắt quả tang.
Kết quả xét nghiệm nước tiểu của bị cáo Nguyễn Văn B và Huỳnh Ngọc N: “Dương tính” với chất ma túy.
Vật chứng vụ án:
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L1 và cán bộ Nguyễn Phương C, bên trong chứa 3,9875g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; (số vụ 2065/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa thảo mộc khô có tổng khối lượng 351,84gram, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa 6,1193gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên trong chứa 11,6761gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa thảo mộc khô có tổng khối lượng 1,5856g, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 bộ dụng cụ ma túy gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa.
- 01 vỏ bao thuốc lá có ghi chữ “ESSE” - bị can B sử dụng để cất giấu số ma túy.
- 01 điện thoại di động hiệu S, có số Imei: 353220824283011, số thuê bao: 0908998167 - là tài sản của bị can B sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 xe mô tô, hiệu honda Wave biển số: 67V2-0313, số khung: RLHHC120XAY171502, số máy: HC12E-2671526. Kết quả giám định số khung và số máy không đổi. Kết quả xác minh xe trên do chị Siêu Thị Kim L2, địa chỉ: P, Thị trấn C, huyện P, tỉnh An Giang, đứng tên chủ sở hữu xe. Bà Siêu Thị Kim L2 mua và đứng tên chủ sở hữu xe trên vào 2010. Ngày 15/01/2020 bà L2 đã bán cho Nguyễn Văn B, địa chỉ: C N, Phường I, Quận H, với giá 10.000.000 đồng và có viết giấy tay mua bán xe. Bị cáo Nguyễn Văn B khai phù hợp với lời khai của bà L2. Ngày 05/06/2024, B đã sử dụng xe mô tô trên để đi bán ma túy.
Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 có quyết định chuyển vật chứng đến Chi cục Thi hành án dân sự Quận 10 chờ xử lý
Tại Cáo trạng số 80/CT-VKSQ10 ngày 23 tháng 4 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 Thành Phố Hồ Chí Minh đã truy tố:
- Bị cáo Huỳnh Ngọc N (có lý lịch nêu trên) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, p khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Bị cáo Nguyễn Văn B (có lý lịch nêu trên) về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Huỳnh Ngọc N, Nguyễn Văn B đều đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh công bố bản luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo đúng theo nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất và hậu quả của vụ án đối với xã hội, sau khi nêu lên những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo; đã đề nghị:
Đối với bị cáo Huỳnh Ngọc N:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, p, khoản 2, khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc N từ 11 (mười một) năm đến 12 (mười hai) năm tù. Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Ngọc N số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Đối với bị cáo Nguyễn Văn B:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2, Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù đến 08 (tám) năm tù. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của các bị cáo: Các bị cáo Huỳnh Ngọc N, Nguyễn Văn B, đều thừa nhận hành vi phạm tội, thống nhất với nội dung cáo trạng, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 10 và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Lời nói sau cùng của bị cáo: Các bị cáo rất hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên thu thập; do bị can, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về những chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, những chứng cứ, tài liệu trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 10, Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Tại các bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung bị can mà bị cáo đã trình bày nội dung lời khai là hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Nhận định hành vi và điều khoản xét xử:
Tại Cơ quan điều tra, cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận hành vi của mình. Qua lời khai nhận của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định:
Lúc 12 giờ ngày 05/6/2024, tại đầu hẻm B H, Phường A, Quận A, Công an Q bắt quả tang bị cáo Nguyễn Văn B đang cất giữ trái phép 4,3188 gam ma tuý loại Methamphetamine, nguồn gốc ma túy do bị cáo Huỳnh Ngọc N đưa cho bị cáo B đi giao bán cho người nghiện. Trước đó, bị cáo B đã được bị cáo N đưa ma túy đi giao bán cho người nghiện một lần vào ngày 03/6/2024 tại C Quận A. Tổng số ma túy bị cáo N dùng để bán đã thu giữ được là 22,2708 gam ma tuý loại Methamphetamine và 357,0925 gam thảo mộc khô, tẩm ướp chất MDMB-4en- PINACA. Căn cứ Phụ lục kèm theo Nghị định số 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ, tỉ lệ phần trăm về khối lượng của chất ma túy là 75,6644% theo khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Trong vụ án này, bị cáo Huỳnh Ngọc N, Nguyễn Văn B phạm tội mang tính đồng phạm giản đơn, trong đó: bị cáo N là người mua, phân ma túy ra để bán cho người nghiện; Bị cáo B giúp sức cho bị cáo N, giao ma túy cho người mua. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận đã nhiều lần thực hiện hành vi mua bán ma túy. Đối với lượng ma túy thu giữ khám xét tại chỗ ở của bị cáo N thì bị cáo B không biết nên không chịu chung trách nhiệm hình sự với bị cáo N về lượng ma túy mà bị cáo N tàng trữ trong nhà với mục đích mua bán.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc N đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm h đến điểm o khoản này”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, p, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn B đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thuộc trường hợp “Phạm tội 02 lần trở lên”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 10 truy tố các bị cáo về tội danh, mức độ hành vi phạm tội và điều luật áp dụng như đã nêu ở trên là có căn cứ.
[5] Việc áp dụng hình phạt, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Hành vi của bị cáo Huỳnh Ngọc N, Nguyễn Văn B là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, tiền chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc trước pháp luật đối với các bị cáo nhằm giáo dục và phòng ngừa chung với xã hội .
- Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
- Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đều đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s, khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
[6] Về hình phạt bổ sung: Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Ngọc N số tiền 10.000.000 đồng. Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
[7] Vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo N hiện không rõ lai lịch, khi nào làm rõ được xử lý sau.
Đối với bộ D sử dụng ma túy, chưa đủ căn cứ theo quy định tại các điểm a, b, khoản 1, Điều 254 Bộ luật hình sự nên hành vi của N chưa đủ căn cứ để xử lý về tội “Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” theo Điều 254 Bộ luật hình sự.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L1 và cán bộ Nguyễn Phương C, bên trong chứa 3,9875g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; (số vụ 2065/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa thảo mộc khô có tổng khối lượng 351,84gram, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa 6,1193gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên trong chứa 11,6761gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa thảo mộc khô có tổng khối lượng 1,5856g, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 bộ dụng cụ ma túy gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa.
- 01 vỏ bao thuốc lá có ghi chữ “ESSE” - bị can B sử dụng để cất giấu số ma túy.
* Tịch thu sung quỹ
- 01 điện thoại di động hiệu S, có số Imei: 353220824283011, số thuê bao: 0908998167 - là tài sản của bị cáo B sử dụng vào việc phạm tội.
- 01 xe mô tô, hiệu honda Wave biển số: 67V2-0313, số khung: RLHHC120XAY171502, số máy: HC12E-2671526 bị cáo B sử dụng vào việc phạm tội.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc N phải nộp lại số tiền bất chính 600.000 đồng; Nguyễn Văn B phải nộp lại số tiền bất chính 50.000 đồng.
[10] Về án phí sơ thẩm: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng)
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1/ Căn cứ vào điểm b, p khoản 2, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Huỳnh Ngọc N 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 6 năm 2024.
Phạt bổ sung bị cáo Huỳnh Ngọc N số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng)
2/ Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 05 tháng 6 năm 2024.
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn B.
3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
Tịch thu tiêu hủy:
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Nguyễn Văn Út L1 và cán bộ Nguyễn Phương C, bên trong chứa 3,9875g, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; (số vụ 2065/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa thảo mộc khô có tổng khối lượng 351,84gram, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa 6,1193gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên trong chứa 11,6761gram, là ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 gói đã được niêm phong, bên ngoài có chữ ký của giám định viên Lê Thị H2 và cán bộ Nguyễn Phương C bên trong chứa thảo mộc khô có tổng khối lượng 1,5856g, đều tìm thấy MDMB-4e-PINACA (số vụ 2079/24, mẫu vật hoàn lại sau giám định).
- 01 bộ dụng cụ ma túy gồm: 01 bình nhựa, 01 nỏ thủy tinh, 01 ống hút nhựa.
- 01 vỏ bao thuốc lá có ghi chữ “ESSE” - bị can B sử dụng để cất giấu số ma túy.
* Tịch thu sung quỹ
- 01 điện thoại di động hiệu S, có số Imei: 353220824283011, số thuê bao: 0908998167
- 01 xe mô tô, hiệu honda Wave biển số: 67V2-0313, số khung: RLHHC120XAY171502, số máy: HC12E-2671526.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 40/QĐ-VKS ngày 08/4/2025)
* Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Huỳnh Ngọc N phải nộp lại số tiền bất chính 600.000 đồng; Nguyễn Văn B phải nộp lại số tiền bất chính 50.000 đồng.
4/ Về án phí: - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc: Các bị cáo Huỳnh Ngọc N, Nguyễn Văn B mỗi người chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
5/ Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo Huỳnh Ngọc N, Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
| Hoàng Đức Anh |
Nơi nhận:
- TAND TP.HCM; (1)
- VKSND TP.HCM; (1)
- Sở Tư pháp TP.HCM; (1)
- VKSND Quận 10; (3)
- Công an Quận 10; (2)
- Chi cục THADS Quận 10; (1)
- Người tham gia tố tụng; (4)
- Lưu: VP, THAHS, Hồ sơ. (5)
Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 105/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma tuý
