Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THUẬN AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/HS-ST

Ngày: 13-6-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Trọng Quân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Thu và ông Lê Văn Công.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Hiếu, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng N, Kiểm sát viên.

Vào ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 115/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 102/2025/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Lê Thành T, sinh năm 2000 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp H, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Không; căn cước công dân số: [...]; giới tính : Nam; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: 9/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Văn T1 và bà Nguyễn Thị P; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt truy nã và tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/12/2024, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Trần Tiến P1, sinh năm 2002; nơi thường trú: Ấp V, xã V, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; chỗ ở hiện nay: 69, ngõ C, X, thành phố N, tỉnh Ninh Bình. Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1978; địa chỉ: Ấp H, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Có mặt.

Người làm chứng:

  1. Trần Quốc K, sinh năm 2006. Vắng mặt;
  2. Trần Quốc T2, sinh năm 2003. Vắng mặt;
  3. Nguyễn Văn K1, sinh năm 2000. Vắng mặt;
  4. Nguyễn Minh K2, sinh năm 2004. Vắng mặt;
  5. Nguyễn Quang T3, sinh năm 2003. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thành T là bạn bè quen biết ngoài xã hội với Trần Quốc K, Trần Quốc T2, Nguyễn Văn K1 và bị hại Trần Tiến P1. Lê Thành T và Trần Tiến P1 có mâu thuẫn với nhau về việc Trương Ngọc O là vợ (không đăng ký kết hôn và có 01 con chung) của T bỏ đi và đang sinh sống như vợ chồng với Trần Tiến P1.

Khoảng 16 giờ ngày 01/01/2022, Lê Thành T gặp Trần Quốc K tại sân bóng Phủi Thuận G ở đường T, khu phố B, phường T, thành phố T để đá bóng thì cả hai gặp Trần Tiến P1 cũng đang đá bóng tại đây. Lúc này, T kể cho K nghe về mâu thuẫn giữa T và P1 rồi rủ K đánh P1 thì K đồng ý. Đồng thời, T nhờ K gọi điện thoại rủ bạn là Trần Quốc T2 cùng tham gia đánh P1 thì được T2 đồng ý. Khoảng 20 phút sau, T2 điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu trắng (không rõ biển số) đi cùng với đối tượng tên D (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) là bạn của T2 đến sân bóng nêu trên, T2 cầm theo 01 con dao tự chế bằng kim loại màu trắng dài khoảng 60 cm và 01 cây tuýp sắt dài khoảng 1m đầu có gắn lưỡi dao bầu bằng kim loại (loại dao phóng lợn). Tại đây, T rủ cả nhóm đi về phòng trọ của T ở khu phố H, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương để lấy hung khí. Đến nơi, T lấy 01 dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 80cm mang theo, K điều khiển xe mô tô kiểu dáng Satria màu đỏ (không rõ biển số) chở T, còn đối tượng D điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu trắng (không rõ biển số) chở T2 cùng quay trở lại sân đá bóng để đánh P1. Khi đi được khoảng 200 mét đến gần khu vực chợ A thuộc khu phố H, phường T thì cả nhóm gặp đối tượng tên L (chưa rõ lai lịch, địa chỉ) đang điều khiển xe mô tô kiểu dáng Wave màu đỏ (không rõ biển số) chở Nguyễn Văn K1 là bạn của T nên T rủ K1 và L cùng tham gia đánh P1 thì K1 và L đồng ý. Lúc này, T2 đưa cho K1 cầm con dao tự chế dài khoảng 60cm rồi cả nhóm 06 người gồm: Tí, K, T2, K1, L và D đi đến trước cổng sân bóng Phủi Thuận G chờ P1 đi về để đánh; đến nơi, K1 đưa lại con dao tự chế dài khoảng 60cm cho K cầm.

Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, ông Nguyễn Minh K2 điều khiển xe mô tô (không rõ biển số) chở bị hại P1 ngồi giữa và ông Nguyễn Quang T3 ngồi sau đi từ phía trong sân bóng ra đến cổng. Tí và T2 cầm hung khí đứng chờ sẵn ngay trước cổng sân bóng còn K cầm hung khí đứng ở ngoài đường cách cổng sân bóng khoảng 10 mét. Nguyễn Văn K1, L và D ngồi trên xe mô tô chờ. Nhìn thấy P1 thì T, T2 và K cùng xông vào để đánh P1; T cầm con dao tự chế dài khoảng 80cm chạy đến chém 01 nhát vào vùng cẳng tay phải của P1 nhưng không trúng nên không gây thương tích mà khiến P1 và K2 té ngã xuống đường, còn T3 nhảy xuống xe chạy bộ vào trong sân bóng. Lúc này, T2 cầm cây tuýp sắt có gắn lưỡi dao kim loại chạy đến chém trúng 01 nhát vào nón bảo hiểm của K2 đang đội, không gây thương tích. Khi P1 đang đứng dậy để bỏ chạy thì bị T và T2 cùng đuổi theo đánh. P1 chạy về phía của K nên bị K cầm con dao tự chế dài khoảng 60cm chém trúng 01 nhát vào vùng cẳng tay (không rõ bên trái hay phải) của P1 nhưng không gây thương tích, T đuổi theo từ phía sau rồi dùng cây dao tự chế chém trúng vùng hông lưng phải của P1 gây thương tích. Sau khi dùng dao chém gây thương tích cho P1 thì Lê Thành T, Nguyễn Văn K1, Trần Quốc K, Trần Quốc T2, L và D bỏ trốn. Trần Tiến P1 được bạn là Nguyễn Minh K2 và Nguyễn Quang T3 chở đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu.

Đến ngày 03/01/2022, Trần Quốc K đến Công an phường T, thành phố T đầu thú. Đến ngày 05/01/2022 Nguyễn Văn K1 đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T đầu thú.

Ngày 20 tháng 12 năm 2024, Lê Thành T bị bắt theo quyết định truy nã.

2

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 84/2022/GĐPY ngày 26/01/2022 của Trung tâm pháp y - Sở Y tế tỉnh B kết luận thương tích của bị hại Trần Tiến P1 như sau:

  • Dấu hiệu chính qua giám định: Vết thương vùng hông lưng phải hình vòng cung 8 x 0,5cm, thấu ngực bụng tràn khí màng phổi phải, thủng cơ hoành phải, đã phẫu thuật cơ hoành phải, vết mổ dẫn lưu màng phổi phải 1,5 x 0,2cm, vết mổ đường giữa bụng trên rốn 19,5 x 0,3cm, vết dẫn lưu bụng phải 1 x 0,1cm, sẹo lành.

  • Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 32% (Ba mươi hai phần trăm) theo bảng tỷ lệ tổn thương cơ thể ban hành theo Thông tư số: 22/2019/TT-BYT do Bộ Y ban hành ngày 28/8/2019;

  • Cơ chế hình thành thương tích: Vết thương vùng hông lưng phải vòng cung, thấu ngực bụng tràn khí màng phổi phải, thủng cơ hoành phải: Chiều chếch xuống khoảng 45° từ trái sang phải, hướng từ sau ra trước, bờ sắc gọn, khả năng do vật sắc nhọn gây ra.

Bản Cáo trạng số 104/CT-VKS-TA ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thành T về tội cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội cố ý gây thương tích; đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu cho bị hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt; áp dụng tình tiết tăng nặng TNHS xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội. Căn cứ quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 06 năm 06 tháng tù đến 07 năm 06 tháng tù; vật chứng đã được xử lý nên không đề cập.

Bị hại ông Trần Tiến P1 trình bày: Ông P1 bị bị cáo dùng dao chém gây ra vết thương ở hông bên phải. Sau khi bị gây thương tích đã được bạn chở đi cấp cứu tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Bình Dương, tỷ lệ thương tích theo kết luận giám định là 32%. Mẹ của bị cáo là bà Nguyễn Thị P bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, đề nghị Tòa án giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và không yêu cầu bồi thường thêm.

Bà Nguyễn Thị P trình bày đã được bị cáo tác động để bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng, bà P không có yêu cầu gì về số tiền này.

Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi dùng dao chém bị hại 02 nhát, trong đó 01 nhát vào tay (không gây thương tích) và 01 nhát vào hông bên phải gây thương tích. Sau khi gây thương tích cho bị hại, bị cáo sợ bị pháp luật xử lý nên đã bỏ trốn đến ngày 20/12/2024 thì bị bắt truy nã; sau khi bị bắt, bị cáo đã nhờ mẹ là bà Nguyễn Thị P bồi thường cho bị hại số tiền 40.000.000 đồng, hiện nay bị hại không yêu cầu gì thêm. Trong phần trình bày lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật, tỏ thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi và hậu quả: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra về quá trình thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị hại và người làm chứng, kết luận giám định pháp y cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ căn cứ kết luận: Vào khoảng 17 giờ ngày 01/01/2022, bị cáo cùng đồng phạm gồm Trần Quốc T2, Trần Quốc K, Nguyễn Văn K1 và đối tượng L, D sử dụng hung khí là dao tự chế gây thương tích cho bị hại Trần Tiến P1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể theo kết luận giám định là 32%.

[3] Về lỗi: Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi dân sự, nhận thức được việc gây thương tích cho bị hại là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì ghen tuông mà đã có hành vi rủ người khác sử dụng dao chém, gây thương tích cho bị hại. Như vậy, lỗi của bị cáo là cố ý trực tiếp.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, vi phạm đến quyền bất khả xâm phạm về thân thể, sức khỏe của người khác, làm mất an ninh, trật tự tại địa phương; bị cáo nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm và vi phạm pháp luật hình sự, sẽ bị xử lý nhưng đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội, bất chấp hậu quả và pháp luật. Vì vậy, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục bị cáo và răn đe các đối tượng khác, phòng ngừa chung cho xã hội.

Từ những nhận định nêu trên có căn cứ kết luận Bản Cáo trạng số 104/CT-VKS-TA ngày 29/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Thành T về tội cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật, không gây oan sai cho bị cáo.

[5] Bị cáo phạm tội thuộc hình thức đồng phạm trong đó, bị cáo có vai trò người rủ rê, cầm đầu nên căn cứ quy định tại Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự để có hình phạt phù hợp đối với bị cáo. Các đồng phạm của bị cáo gồm Trần Quốc T2, Trần Quốc K và Nguyễn Văn K1 đã bị Tòa án nhân dân thành phố Thuận An xét xử tại Bản án số 151/2023/HS-ST ngày 02/6/2023. Tại Bản án nêu trên, Tòa án đã xử phạt Trần Quốc T2 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù; xử phạt Nguyễn Văn K1 05 (năm) năm tù và xử phạt Trần Quốc K 03 (ba) năm tù.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Trần Tiến P1 số tiền 40.000.000 đồng; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người rủ Trần Quốc K, sinh ngày 22 tháng 03 năm 2006 (tại thời điểm phạm tội K được 15 tuổi 09 tháng) là người chưa thành niên cùng phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội” quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

4

[8] Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt bị cáo mức hình phạt như trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại, cụ thể: Bà Nguyễn Thị P là mẹ của bị cáo đã bồi thường cho ông Trần Tiến P1 số tiền 40.000.000 đồng; ông P1 không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

[10] Về xử lý vật chứng: Đã được xử lý tại Bản án số 151/2023/HS-ST ngày 02/6/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An nên không xem xét.

[11] Đối với đối tượng tên L và D hiện chưa xác minh được lai lịch địa chỉ, khi nào xác minh được sẽ xử lý sau.

[11] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điểm c khoản 3 Điều 134, điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Thành T phạm tội cố ý gây thương tích.

Xử phạt bị cáo Lê Thành T 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 20/12/2024.

2. Về án phí: Bị cáo Lê Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Trọng Q

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 105/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thành T - Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger