|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105 /2025/HS-ST Ngày: 03/4/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Lỗ Thị Kiều Oanh.
Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Phúc Tuấn và ông Trương Công Tráng
Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Phương Anh, thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: ông Đặng Hoài An, kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án hình sự thụ lý số: 30/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 21/2025/QĐHPT ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:
-
Nguyễn Thị H, sinh năm: 1978; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; nơi thường trú: số nhà A, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo, đảng phái: không; con ông Nguyễn Đình L - đã chết và bà Lê Thị N, sinh năm 1953; chồng là Lê Đình S, sinh năm: 1977 và có 02 con chung, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2009; tiền sự, tiền án: không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 19/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Lê Trọng T, sinh năm: 1983; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi thường trú: số nhà B, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo, đảng phái: không; con ông Lê Trọng T1, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1957; vợ là Nguyễn Thị H2, sinh năm 1987 và có 02 con chung, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2010; tiền sự, tiền án: k hông; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 19/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
-
Bùi Văn Đ, sinh năm: 1984; tên gọi khác: không; giới tính: nam; nơi thường trú: số nhà E, tổ dân phố A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo, đảng phái: không; con ông Bùi Văn T2 - đã chết và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1949; vợ là Lê Thị H3, sinh năm 1984 và có 04 con chung, lớn nhất sinh năm 2007, nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền sự, tiền án: không; Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 09/12/2024 đến ngày 19/12/2024, được thay đổi biện pháp ngăn chặn. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm 1978; trú tại: số D, tổ A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 18 giờ 10 ngày 09/12/2024, tổ công tác Đ1 Công an quận H tiến hành tuần tra kiểm soát trên địa bàn phường K, quận H, thành phố Hà Nội phát hiện tại ngõ A, tổ A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội, Nguyễn Thị H có biểu hiện đánh bạc dưới hình thức mua bán số lô, số đề. Tổ công tác tiến hành kiểm tra hành chính và kiểm tra điện thoại của Nguyễn Thị H, thì phát hiện trong điện thoại mà H sử dụng, có tin nhắn việc mua bán số lô, số đề giữa Nguyễn Thị H với Lê Trọng T, Bùi Văn Đ và Nguyễn Thị Thu H4, sinh năm: 1978, HKTT: Số D, tổ A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội. Ngày 09/12/2024, Nguyễn Thị H, Lê Trọng T, Bùi Văn Đ đến Công an quận H đầu thú khai nhận hành vi đánh bạc cụ thể như sau:
Ngày 22/11/2024, Lê Trọng T gặp Nguyễn Thị H và rủ H chơi lô đề H đồng ý, T thống nhất với Nguyễn Thị H mua số lô 1 điềm = 22.500 đồng, nếu trúng thì H phải trả T 80.000 đồng; mua số đề nếu trúng thì H phải trả gấp 70 lần số tiền mua, khi nào chơi thì nhắn tin qua Zalo. Sau đó T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu ghi, lắp sim số 0987458368 nhắn tin qua Zalo, từ tài khoản của Lê Trọng T là “T3”, đến tài khoản Zalo của H là “H Nguyễn” mua số lô 25= 300 điểm; số 18=100 điểm; số đề 18 là 500.000 đồng. Tổng là 400 điểm x 22.500= 9.000.000+ 500.000 đồng (tiền đề) = 9.500.000 đồng. Kết quả mở thưởng sổ xố Miền Bắc ngày 22/11/2024 T trúng số lô 25 và 18 = 400x 80.000= 32.000.000 đồng, sau khi trừ số tiền T đánh, còn lại H đã thanh toán cho T là 22.500.000 đồng.
Ngày 07/12/2024, Bùi Văn Đ gặp Nguyễn Thị H và rủ H chơi lô, đề H đồng ý, Đ thống nhất với Nguyễn Thị H mua số lô 1 điểm = 22.500 đồng, nếu trúng thì H phải trả Đ 80.000 đồng; mua số đề nếu trúng thì H phải trả gấp 70 lần số tiền mua, khi nào chơi thì nhắn tin qua Zalo. Sau đó Đ sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu tím, lắp sim số 0862192662 nhắn tin từ tài khoản Zalo của Đ là “Bùi Đ” đến tài khoản Zalo “Linh L1” của Hồng lắp sim số 0877451501 mua số lô 63 là 500 điểm; số 36 là 200 điểm, tổng là 700 điểm x 22.500 đồng = 15.750.000 đồng. So kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 07/12/2024, kết quả không trúng, Đ đã thanh toán cho H 15.750.000 đồng.
Ngày 09/12/2024, Nguyễn Thị Thu H4 gặp Nguyễn Thị H và rủ H chơi lô đề H đồng ý, H4 thống nhất với Nguyễn Thị H mua số lô 1 điềm = 22.500 đồng, nếu trúng thì H phải trả H4 80.000 đồng; mua số đề nếu trúng thì H phải trả gấp 70 lần số tiền mua, khi nào chơi thì nhắn tin qua Zalo. Sau đó H4 sử dụng điện thoại Iphone 11 Promax số điện thoại 0969.085.xxx, nhắn tin từ Zalo của tài khoản H4 là “H Bo” đến tại khoản Zalo của H là “H Nguyễn”, nhắn tin mua số lô là (12,21)x 5 điểm = 10 điềm x 23.000 = 230.000 đồng; mua số đề ( số A, 21, 08, 80,16,61, 00) mỗi số là 10.000 đồng = 70.000 đồng. Tổng số tiền mua số lô, số đề của H4 là 300.000 đồng. So kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 09/12/2024, kết quả không trúng. Số tiền này H4 chưa thanh toán cho H.
* Vật chứng thu giữ:
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám 6S, số Imei: 359484088133148, lắp sim số 0877451501 (thu giữ của Nguyễn Thị H).
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh rêu số Imei 1: 352848113438713; số Imei 2: 352848113279018, lắp sim số 0969085978 (thu giữ của Nguyễn Thị H).
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu ghi, số Imei 1: 354786256721164, số Imei 2: 354786256966918, lắp sim số 0987458368 (thu giữ của Lê Trọng T)
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu tím, số Imei 1: 356303489096204, lắp sim số 0862192662 (thu giữ của Bùi Văn Đ)
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ số Imeil: 355126467596668, lắp sim số 0913068668 (thu giữ của Nguyễn Thị H4).
Tại Cáo trạng số: 23 /CT-VKS-HĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông đã truy tố Nguyễn Thị H, Lê Trọng T và Bùi Văn Đ về tội: “đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Nguyễn Thị H từ 18 tháng đến 21 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 tháng đến 42 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Trọng T từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt: Bùi Văn Đ từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “đánh bạc”.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Trọng T, Bùi Văn Đ cho UBND phường K, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách
Phạt bổ sung: Nguyễn Thị H từ 15 – 20 triệu đồng; Lê Trọng T và Bùi Văn Đ từ 10 - 15 triệu đồng.
Xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám 6S, số Imei: 359484088133148, lắp sim số 0877451501 (thu giữ của Nguyễn Thị H); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh rêu số Imei 1: 352848113438713; số Imei 2: 352848113279018, lắp sim số 0969085978 (thu giữ của Nguyễn Thị H); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu ghi, số Imei 1: 354786256721164, số Imei 2: 354786256966918, lắp sim số 0987458368 (thu giữ của Lê Trọng T); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu tím, số Imei 1: 356303489096204, lắp sim số 0862192662 (thu giữ của Bùi Văn Đ); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ số Imeil: 355126467596668, lắp sim số 0913068668 (thu giữ của Nguyễn Thị H4).
Buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền thu lời bất chính 15.750.000 đồng, buộc bị cáo T phải nộp lại số tiền thu lời bất chính 22.500.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại. Do đó có căn cứ các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ trong vụ án: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội. Xét lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản tiếp nhận đầu thú, vật chứng thu giữ, lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 22/11/2024, Lê Trọng T đã có hành vi mua số L1, số Đề với Nguyễn Thị H, T mua số lô 25 = 300 điểm; số 18=100 điểm; số đề 18 là 500.000 đồng, với tổng số tiền là 9.500.000 đồng. Kết quả mở thưởng sổ xố Miền Bắc ngày 22/11/2024 T trúng số lô 25 và 18 = 400x 80.000= 32.000.000 đồng. Tổng số tiền đánh bạc ngày 22/11/2024 của H và T là 9.500.000 đồng + 32.000.000 đồng = 41.500.000 đồng. Ngày 07/12/2024 Bùi Văn Đ đã có hành vi mua số L1, số Đề, với Nguyễn Thị H. Đ mua của H số lô 63 là 500 điểm, số C là 200 điểm, với tổng số tiền là 15.750.000 đồng. So kết quả sổ xố kiến thiết Miền Bắc mở thưởng ngày 07/12/2024, kết quả không trúng. Đ đã thanh toán cho H 15.750.000 đồng.
Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, nên đã phạm vào tội “Đánh bạc”. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông truy tố đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hướng đến trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân làm phát sinh các hành vi phạm tội khác. Vì vậy cần phải xử lý nghiêm đối với các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Xét vai trò, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo trong vụ án:
Đối với Nguyễn Thị H là người nhận số Lô, số Đề với Lê Trọng T ngày 22/11/2024 và Bùi Văn Đ ngày 07/12/2024 với tổng số tiền đánh bạc là 57.250.000 đồng. Bị cáo thu lợi số tiền 15.750.000 đồng, đã khắc phục số tiền này. Hành vi của bị cáo thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội từ 02 lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, nên cần có mức hình phạt cao hơn các bị cáo khác, tương xứng với mức độ hành vi của bị cáo. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đầu thú, đã nộp lại số tiền hưởng lợi 15.750.000 đồng, bị cáo H là phụ nữ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bản thân không có công việc ổn định, hiện tại đang phải chăm sóc bố mẹ già yếu nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo được giảm một phần hình phạt thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Đối với Lê Trọng T và Bùi Văn Đ: T là người tham gia đánh bạc với H ngày 22/11/2024 với tổng số tiền đánh bạc là 41.500.000 đồng, bị cáo T được hưởng lợi số tiền 22.500.000 đồng, bị cáo T đã nộp lại số tiền này; Đ tham gia đánh bạc với H số tiền 15.750.000 đồng nhưng Đ thua. Nên bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Đ. Quá trình điều tra, truy tố các bị cáo T và H đều đầu thú, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lần đầu phạm tội, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; riêng bị cáo T đã nộp lại số tiền hưởng lợi 22.500.000 đồng nên được áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Xét thấy, các bị cáo H, T, Đ có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo đều có khả năng tự cải tạo, việc cho các bị cáo hưởng án treo, không gây nguy hiểm, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó chỉ cần áp dụng mức hình phạt tù, nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách cho từng bị cáo như đề xuất của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp, đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét thấy, hành vi đánh bạc của các bị cáo nhằm mục đích vụ lợi, số tiền đánh bạc nhiều do đó ngoài hình phạt chính cần phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.
* Xét, số tiền các bị cáo dùng đánh bạc, hưởng lợi bất chính do phạm tội mà có cần buộc truy nộp sung quỹ Nhà nước, gồm:
- Đối với Nguyễn Thị H: Buộc truy nộp số tiền 15.750.000 đồng; Ghi nhận bị cáo H đã nộp 25.250.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0039571 ngày 01/4/2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, bị cáo được trả lại số tiền: 9.500.000 đồng;
- Đối với Lê Trọng T: Buộc truy nộp số tiền 22.500.000 đồng. Ghi nhận bị cáo T đã nộp 22.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0039572 ngày 02/4/2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông
[6] Xử lý vật chứng: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám 6S, số Imei: 359484088133148, lắp sim số 0877451501 và 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh rêu số Imei 1: 352848113438713; số Imei 2: 352848113279018, lắp sim số 0969085978 (đều thu giữ của Nguyễn Thị H); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu ghi, số Imei 1: 354786256721164, số Imei 2: 354786256966918, lắp sim số 0987458368 (thu giữ của Lê Trọng T); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu tím, số Imei 1: 356303489096204, lắp sim số 0862192662 (thu giữ của Bùi Văn Đ); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ số Imeil: 355126467596668, lắp sim số 0913068668 (thu giữ của Nguyễn Thị H4) đều là công cụ, phương tiện sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
[7] Các vấn đề khác: Đối với Nguyễn Thị Thu H4 đánh bạc ngày 09/12/2024 số tiền là 300.000 đồng, qua xác minh H4 không có tiền án, tiền sự về tội Đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc. Công an quận H đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Thu H4 về hành vi đánh bạc ngày 09/12/2024 là có căn cứ.
[8] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo H).
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo T).
Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, s khoản 1Điều 51; Điều 65; Điều 58 Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Đ).
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự Điều 106; 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Trọng T, Bùi Văn Đ phạm tội đánh bạc.
2. Xử phạt:
- Nguyễn Thị H: 21 (hai mươi mốt) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 42 (bốn mươi hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Lê Trọng T: 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Bùi Văn Đ: 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi tư) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao các bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường K, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự. Trường hợp bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.
* Về hình phạt bổ sung:
- Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thị H số tiền 15 (mười lăm) triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Phạt bổ sung bị cáo Lê Trọng T số tiền 10 (mười) triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
- Phạt bổ sung bị cáo Bùi Văn Đ số tiền 10 (mười) triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
2. Biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:
- Buộc truy nộp số tiền 15.750.000 đồng đối với Nguyễn Thị H; Ghi nhận bị cáo H đã nộp 25.250.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0039571 ngày 01/4/2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông, bị cáo được trả số tiền: 9.500.000 đồng;
- Buộc truy nộp số tiền 22.500.000 đồng đối với Lê Trọng T. Ghi nhận bị cáo T đã nộp 22.500.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0039572 ngày 02/4/2024 tại chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 6S, màu xám 6S, số Imei: 359484088133148, lắp sim số 0877451501 (thu giữ của Nguyễn Thị H); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xanh rêu số Imei 1: 352848113438713; số Imei 2: 352848113279018, lắp sim số 0969085978 (thu giữ của Nguyễn Thị H); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax màu ghi, số Imei 1: 354786256721164, số Imei 2: 354786256966918, lắp sim số 0987458368 (thu giữ của Lê Trọng T); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax màu tím, số Imei 1: 356303489096204, lắp sim số 0862192662 (thu giữ của Bùi Văn Đ); 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 màu đỏ số Imeil: 355126467596668, lắp sim số 0913068668 (thu giữ của Nguyễn Thị H4) đều là công cụ, phương tiện sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
(Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24/02/2025 giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông)
3. Án phí: buộc các bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Trọng T, Bùi Văn Đ, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lỗ Thị Kiều Oanh |
Bản án số 105/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (tội đánh bạc)
- Số bản án: 105/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Nguyễn Thị H, Lê Trọng T, Bùi Văn Đ có hành vi đánh bạc
