|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 105/2025/HS-PT Ngày: 30/6/2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung
Thẩm phán: Bà Lê Thị Tân
Bà Lê Thị Phương Thanh
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Mai Hồng Minh –Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thanh Hiếu – Kiểm sát viên.
Ngày 30/6/2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa, xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2025/HSPT ngày 03/3/2025 đối với bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C, do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HSST ngày 16/01/2025 của TAND thành phố Thanh Hoá, Thanh Hóa.
Bị cáo kháng cáo:
1. Nguyễn Lan H - sinh năm 1984; Giới tính: Nữ; Căn cước công dân số: [...]; Nơi ĐKTT: Khu đô thị A, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: P CT3 T, phường L, quận H, Thành phố Hà Nội; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Kinh doanh; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Xuân Q và bà Nguyễn Thị T; Chồng: Trần Đức T1; Bị cáo có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị tạm giữ từ ngày 05/4/2024 đến ngày 08/4/2024 chuyển tạm giam, ngày 31/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Trần Anh C - sinh năm 1994; Giới tính: Nam; Căn cước công dân số: [...]; Nơi ĐKTT: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh; Nơi thường trú: Số nhà A T, phường T, quận N, Thành phố Hà Nội; Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh, (Xác nhận số 387/XNCT-CAX ngày 04/12/2024, của Công an xã M, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh); Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Con ông Trần Đức K và bà Khúc Thị H1; Vợ: Bùi Hồng Y - sinh năm 2000; Bị cáo có 02 con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/4/2024, đến ngày 08/4/2024 chuyển tạm giam, ngày 31/10/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn bằng biện pháp “Bảo lĩnh”. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
Các bị cáo không có kháng cáo, kháng nghị: Ngô Thị T2, Nông Thị H2, Nông Quang H3, Nhữ Thị M, Nguyễn Thị N, Phạm Văn C1, Trịnh Thị H4.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 02/4/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T nhận được nguồn tin về tội phạm với nội dung: Sản phẩm thực phẩm bảo vệ sức khoẻ nhãn hiệu Kwangdong xuất xứ Hàn Quốc loại hộp 10 viên (thường gọi là An Cung) của Nguyễn Thị N ở phường T, quận L, Thành phố Hà Nội và Nhữ Thị M ở siêu thị K2, số G - G M, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội bán, nghi ngờ nguồn gốc xuất xứ sản phẩm không chính hãng.
Quá trình điều tra xác định: Cuối năm 2023, Nguyễn Thị T3, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố G P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội kinh doanh một số mặt hàng nhập khẩu từ Hàn Quốc, nắm bắt được thương hiệu K1 (là công ty của Hàn Quốc chuyên sản xuất thực phẩm chức năng), trong đó có sản phẩm An Cung (còn gọi là Viên hoàn Vũ Hoàng Thanh T4) được người tiêu dùng Việt Nam ưa chuộng, nên T3 đã nảy sinh ý định làm giả các sản phẩm trên để bán ra thị trường. Cụ thể:
Đầu năm 2024, thông qua mạng xã hội, T3 đặt in vỏ hộp bao bì với giá 100.000 đồng/01 bộ vỏ hộp bao bì gồm: 01 thùng bìa catton, 10 vỏ hộp giấy lớn, mỗi hộp giấy lớn đựng 10 vỏ hộp giấy nhỏ, giấy hướng dẫn sử dụng để sản xuất sản phẩm An Cung mẫu cũ năm 2023 (gồm loại nửa hộp màu đỏ, nửa hộp màu vàng, có hình tổ yến; loại nửa hộp màu đỏ, nửa hộp màu vàng, chữ Anpha màu đen; loại nửa hộp màu nâu, nửa hộp màu vàng). Để sản xuất sản phẩm An Cung mẫu mới ra mắt năm 2024 (loại hộp màu đỏ, có chỉ gạch màu vàng ở giữa), T3 đặt mua sản phẩm viên hoàn trên mạng xã hội với giá 13.000 đồng/01 viên và các hộp nhựa hình trụ tròn màu trắng để đựng viên hoàn với giá 2.000 đồng/01 lọ. Sau đó, T3 thuê Ngô Thị T2 đặt in vỏ hộp, thùng giấy theo hình dáng, thiết kế tương tự hàng thật, T2 đồng ý. T3 đưa cho T2 bao bì sản phẩm là thực phẩm bảo vệ sức khỏe An Cung có đặc điểm: 01 thùng cát tông màu vàng, kích thước khoảng (15x20x40)cm, bên trong có chứa 10 hộp giấy màu đỏ, trong mỗi hộp giấy chứa 10 hộp giấy nhỏ, bên trong đều có giấy hướng dẫn sử dụng có in logo hình A, dòng chữ K1 và các chữ Hàn Quốc, yêu cầu T2 in ấn thùng cát tông, hộp giấy và giấy hướng dẫn sử dụng. T3 đã đặt làm các sản phẩm bao bì của T2 tổng số sản phẩm là 150 bộ với chi phí 20.580.000 đồng. T2 lên bản thiết kế dựa trên các sản phẩm mẫu An Cung thật do T3 cung cấp, sau đó T2 thuê Nguyễn Thanh T5, sinh năm 1989, trú tại phường H, quận Đ, Thành phố Hà Nội là Giám đốc Công ty TNHH I in vỏ hộp hết 6.500.000 đồng. Sau khi sản xuất xong các hộp giấy và
thùng cát tông thì T2 liên hệ với anh Nguyễn Thành V, sinh năm 1981, trú tại Đội 1, Tả Thanh O, huyện T, Thành phố Hà Nội để phủ nhũ vàng trên hộp giấy của sản phẩm An Cung và trả công cho V 750.000 đồng. Sau khi anh V làm xong, T2 báo cho T3 biết và gọi S giao hàng cho T3. Sau khi có viên hoàn và vỏ hộp, T3 thuê Nông Thị H2 và Nông Quang H3 (em trai H2) đóng gói tại số nhà A Đ, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội. T3 chuyển cho Hằng viên hoàn, lọ nhựa, nắp vặn, H2 nói H3 đến nhà T3 lấy các nguyên liệu trên đem về chỗ ở rồi H2 và H3 gia công thành phẩm, làm xong, H3 chuyển cho T3. T3 trả công cho H2 và H3 70.000 đồng/100 viên được vặn nắp vào hộp nhựa.
Ngoài ra, T3 còn thuê anh Phùng Văn T6, sinh năm 1963, trú tại số nhà E L, phường G, quận B, Thành phố Hà Nội; chị Nguyễn Thị H5, sinh năm 1976, trú tại số nhà A Đ, phường C, quận B, Thành phố Hà Nội và chị Phạm Thị T7, sinh năm 1974, trú tại Tổ dân phố G P, phường M, quận N, Thành phố Hà Nội đóng gói, hoàn thiện sản phẩm bằng cách bỏ các lọ nhựa màu trắng đựng các viên hoàn vào hộp giấy nhỏ, khi được 10 hộp giấy nhỏ thì đóng vào 01 hộp giấy to màu đỏ, khi đủ 10 hộp giấy đỏ thì đóng vào một thùng giấy. T3 trả cho H5, T7, T6 100.000 đồng/01 thùng sản phẩm hoàn thiện.
Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2023 đến thời điểm bị bắt, Nguyễn Thị T3 đã bán sản phẩm An Cung giả nhãn hiệu Kwangdong Hàn Quốc cho các khách hàng gồm:
- - Bán cho Nhữ Thị M 02 thùng An Cung mẫu mới năm 2024 với giá 7.000.000 đồng/01 thùng. M bán cho một khách hàng ở thành phố T 05 hộp, với giá 2.200.000 đồng/01 hộp, bán cho khách qua đường không rõ danh tính 09 hộp, với giá 800.000 đồng/01 hộp, hưởng lợi số tiền 8.400.000 đồng.
- - Bán cho Nguyễn Lan H 155 thùng sản phẩm An Cung mẫu cũ năm 2023 với giá 2.500.000 đồng/01 thùng và 09 thùng sản phẩm An Cung mẫu mới năm 2024 với giá 7.300.000 đồng/01 thùng.
Sau khi mua sản phẩm An Cung giả của T3, Nguyễn Lan H bán cho các khách hàng gồm:
- - Bán cho Nguyễn Thị N 05 thùng sản phẩm An Cung mẫu mới năm 2024 với giá 7.700.000 đồng/01 thùng, thu lời số tiền 2.000.000 đồng. Sau khi mua sản phẩm của H, N bán cho một khách hàng ở thành phố T 01 thùng với giá 9.000.000 đồng, N được hưởng lợi số tiền 1.300.000 đồng. H thuê Trần Anh C nhận sản phẩm An Cung giả do T3 chuyển đến kho ở địa chỉ NV28 khu đô thị H, phường T, quận T, Thành phố Hà Nội sau đó giao cho khách hàng theo chỉ đạo của H.
- - Bán cho Phạm Văn C1 01 thùng An Cung mẫu mới năm 2024 với giá 8.000.000 đồng/01 thùng và 05 thùng An Cung mẫu cũ năm 2023 với giá 2.700.000 đồng/01 thùng, được hưởng lợi số tiền 1.700.000 đồng.
- - Phạm Văn C1 bán 01 thùng sản phẩm An Cung mẫu mới năm 2024 cho Trịnh Thị H4 với giá 10.500.000 đồng, được hưởng lợi số tiền 2.500.000 đồng.
- - Trịnh Thị H4 bán cho khách qua đường không rõ danh tính 07 hộp sản phẩm với giá 1.600.000 đồng/01 hộp, H4 được hưởng lợi số tiền 3.850.000 đồng.
Tính đến tháng 4 năm 2024, T3 đã sản xuất và bán ra thị trường 175 thùng An Cung mẫu cũ năm 2023 và 16 thùng An Cung mẫu mới năm 2024.
Trong tổng số 175 thùng sản phẩm giả An Cung mẫu cũ năm 2023 mà Nguyễn Thị T3 sản xuất, trong đó 25 thùng sản phẩm không có mẫu so sánh, không đủ căn cứ kết luận là hàng giả, 16 thùng sản phẩm giả An Cung mẫu mới năm 2024 đều là loại thùng 10 hộp, mỗi hộp 10 viên. Tổng giá trị hàng hoá tương đương giá trị hàng thật là 2.158.200.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 1358/KL-KTHS ngày 03/4/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận đối với số hàng hóa mà người tố giác tội phạm đã giao nộp như sau: Tem, nhãn bao bì mẫu cần giám định so với tem, nhãn bao bì mẫu so sánh là không phải do cùng một bản in in ra.
Tại Bản kết luận giám định số 2381/KL-KTHS ngày 21/6/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận đối với số sản phẩm An Cung thu giữ của Nguyễn Thị T3, Trần Anh C, Nguyễn Thị N, Nhữ Thị M, Phạm Văn C1, Trịnh Thị H4: 09 hộp sản phẩm An Cung mẫu mới năm 2024 thu giữ của Nhữ Thị Minh L cùng bản in với mẫu so sánh, toàn bộ các sản phẩm An Cung còn lại đều không cùng bản in với mẫu so sánh.
Tại Bản kết luận giám định số 3435/KL-KTHS ngày 20/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận đối với các sản phẩm An Cung thu giữ của Nguyễn Lan H bao gồm 03 thùng có đặc điểm hộp màu nâu, hoạ tiết hoa văn màu vàng, in logo Kwangdong Hàn Quốc và 25 thùng sản phẩm An Cung có hình tổ yến ở giữa hộp hoặc hộp màu đỏ hoạ tiết hoa văn màu vàng: Tem nhãn, bao bì mẫu cần giám định và mẫu so sánh không cùng bản in in ra.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 32/KL-HĐĐGTS ngày 03/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố T kết luận: 10 hộp An Cung ngưu hoàng hoàn mẫu mới năm 2024 có giá 25.200.000 đồng.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 44/KL-HĐĐGTS ngày 14/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản UBND thành phố T kết luận: 01 hộp An Cung ngưu hoàng hoàn mẫu cũ năm 2023 có giá 1.170.000 đồng.
* Về vật chứng: Số vật chứng thu giữ của vụ án đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối với Nguyễn Thị T3, tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 311/KLGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024, Bệnh viện T8 kết luận: trước, trong khi
thực hiện hành vi phạm tội, Nguyễn Thị T3 bị bệnh Giai đoạn trần cảm nặng kèm theo các triệu chứng loạn thần, giai đoạn bệnh thuyên giảm, theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F32.3. Tại các thời điểm trên bị can đủ khả năng nhận thức, hạn chế khả năng điều khiển hành vi. Tại thời điểm giám định Nguyễn Thị T3 bị bệnh Rối loạn trầm cảm tái diễn hiện tại giai đoạn nặng có các triệu chứng loạn thần, giai đoạn bệnh cấp tính, theo Phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10 năm 1992 bệnh có mã F33.3. Bị can mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Ngày 01/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa ra Quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh đối với Nguyễn Thị T3.
Đối với các đối tượng in bao bì các sản phẩm An Cung giả và những người được thuê đóng gói các sản phẩm An Cung giả nhưng không biết việc sản xuất hàng giả, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
* Đối với số tiền thu lời bất chính các bị cáo tự nguyện giao nộp đầy đủ trong quá trình điều tra. Tổng số tiền các bị cáo giao nộp là 33.190.000 đồng.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HSST ngày 16/01/2025 của
TAND thành phố Thanh Hoá, Thanh Hóa đã quyết định:
Căn cứ: Căn cứ vào điểm a khoản 3 Điều 193; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Lan H); Điểm a khoản 3 Điều 193; Điều 17; khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Trần Anh C).
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Lan H, Trần Anh C phạm tội "Buôn bán hàng giả là thực phẩm".
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Lan H 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tam giam từ ngày 05/4/2024 đến ngày 31/10/2024.
- Bị cáo Trần Anh C 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tam giam từ ngày 05/4/2024 đến ngày 31/10/2024.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử các bị cáo khác từ 24 - 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của những người tham gia tố tụng.
* Ngày 21/01/2025, bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
* Tại phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt, nhưng vẫn giữ nguyên kháng cáo.
Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa đề nghị HĐXX phúc thẩm: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên hình phạt của các bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C và buộc các bị cáo chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo quy định.
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C kháng cáo trong hạn luật định nên chấp nhận để xem xét vụ án theo trình tự phúc thẩm là phù hợp.
Tịa phiên toà phúc thẩm vắng mặt bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C, nhưng các bị cáo đã có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 290 BLTTHS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt là phù hợp.
[2] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C thấy rằng:
Trong khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2023 đến thời điểm bị bắt, Nguyễn Thị T3 đã bán sản phẩm An Cung giả nhãn hiệu Kwangdong Hàn Quốc cho các khách hàng trong đó có Nguyễn Lan H buôn bán 155 thùng sản phẩm An Cung giả mẫu cũ năm 2023, trong đó có 25 thùng sản phẩm không có mẫu so sánh nên không đủ căn cứ kết luận là hàng giả, 09 thùng sản phẩm An Cung giả mẫu mới năm 2024, sau khi bán sản phẩm được hưởng lợi số tiền 3.700.000 đồng (Ba triệu, bảy trăn nghìn đồng). Tổng giá trị hàng hoá tương đương giá trị hàng thật là 1.747.800.000 đồng (Một tỷ, bảy trăm bốn mươi bảy triệu, tám trăm nghìn đồng).
Trần Anh C đồng phạm với Nguyễn Lan H buôn bán 150 thùng sản phẩm An Cung giả mẫu cũ năm 2023, trong đó có 25 thùng sản phẩm không có mẫu so sánh nên không đủ căn cứ kết luận là hàng giả, 08 thùng sản phẩm An Cung giả mẫu mới năm 2024. Tổng giá trị hàng hoá tương đương giá trị hàng thật là 1.664.100.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm sáu mươi tư triệu, một trăm nghìn đồng).
Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi buôn bán hàng giả là thực phẩm của các bị cáo H và C là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chính sách quản lý thị trường của Nhà nước, gây mất ổn định thị trường sản xuất kinh doanh, xâm phạm đến quyền, lợi ích vật chất của doanh nghiệp và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội.
Mặc dù các bị cáo Nguyễn Lan H, Trần Anh C có nhiều tình tiết giảm nhẹ ở giai đoạn sơ thẩm như: sau khi phạm tội đã tự nguyện ra đầu thú, thành khẩn khai báo; bị cáo Nguyễn Lan H đã giao nộp đầy đủ khoản tiền thu lợi bất chính; bị cáo H có bố chồng là người có công với Cách M1 được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, đóng góp ủng hộ phòng chống C2, bảo lụt và có con là người khuyết tật; bị cáo C có ông nội là người có công với Cách M1 được tặng
thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất, có tinh thần ủng hộ phòng chống C2, bảo lụt đây là các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Ở giai đoạn phúc thẩm hai bị cáo có thêm tình tiết giảm nhẹ mới như: cứu giúp người đuối nước được chính quyền địa phương tặng giấy khen (cho H) và xác nhận người có công (cho C). Tuy nhiên, trong vụ án này hai bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng. Bị cáo Nguyễn Lan H là người có vai trò chính về hành vi buôn bán hàng giả, có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trần Anh C là đồng phạm giúp sức tích cực, nên mức án của cấp sơ thẩm xử H trên mức khởi điểm, C mức án khởi điểm là đã phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của các bị cáo, đặc biệt trong tình hình hiện nay việc sản xuất, buôn bán hàng giả đang là vấn nạn gây tác hại xấu cho người tiêu dùng và đời sống xã hội thì việc xử lý nghiêm khắc đối với tội phạm này là cần thiết. Do đó, không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ, giữ nguyên án sơ thẩm về hình phạt của các bị cáo H và C là phù hợp.
[3] Về án phí: Các bị cáo H và C phải chịu án phí HSPT.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điểm c Khoản 2 Điều 290; Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356 BLTTHS.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 72/2025/HSST ngày 28/11/2024 của TAND thành phố Thanh Hoá, Thanh Hóa về hình phạt của bị cáo Nguyễn Lan H và Trần Anh C.
Căn cứ: Điểm a Khoản 3 Điều 193; Điều 17; Khoản 1 Điều 47; Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Nguyễn Lan H); Điểm a Khoản 3 Điều 193; Điều 17; Khoản 1 Điều 47; Điểm s Khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự (đối với bị cáo Trần Anh C).
Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Lan H, Trần Anh C phạm tội "Buôn bán hàng giả là thực phẩm".
Xử phạt:
- Bị cáo Nguyễn Lan H 10 (mười) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tam giam từ ngày 05/4/2024 đến ngày 31/10/2024.
- Bị cáo Trần Anh C 10 (mười) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ đi thời gian tạm giữ, tam giam từ ngày 05/4/2024 đến ngày 31/10/2024.
3. Án phí: Nguyễn Lan H và Trần Anh C phải nộp mỗi bị cáo 200.000₫ án phí HSPT.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Dung |
Bản án số 105/2025/HS-PT ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về buôn bán hàng giả là thực phẩm
- Số bản án: 105/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng giả là thực phẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Lan H cùng đồng phạm "Buôn bán hàng giả là thực phẩm"
