|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2025/HS-PT Ngày: 19 - 8 - 2025 |
----- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh
Các Thẩm phán: Bà Phan Thị Xuân Huế và Bà Trương Thị Đào Vi
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 78/2025/TLPT-HS, ngày 01 tháng 7 năm 2025 đối với bị cáo Ngô Đức T và đồng phạm; do có kháng cáo của bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 21/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Ngô Đức T, sinh ngày 25/6/1995, tại thành phố H; nơi cư trú: Thôn A, phường T, thành phố H; nghề nghiệp: Thợ may; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Ngô Đức Á, sinh năm 1975; mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1976; vợ: Sống chung như vợ chồng với chị Huỳnh Thị Yến N, sinh năm 1995; con: Có 01 con, sinh năm 2021;
Tiền án: Có 01 tiền án (Bản án số 44/2022/HS-ST ngày 11/8/2022, Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, xử phạt 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; chấp hành xong bản án ngày 09/5/2024); tiền sự: Không;
Về nhân thân: Ngày 24/9/2021, bị Công an thành phố H phạt 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc” theo quyết định số 4847/QĐ-XPVPHC;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, chuyển tạm giam từ ngày 20/02/2025 cho đến nay; có mặt.
2. Phan Văn Anh D (Tên gọi khác: Cu), sinh ngày 10/9/1999, tại thành phố H; nơi cư trú: Số D N, phường P, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên an ninh quán bar; trình độ học vấn: 09/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Phan Văn N1, sinh năm 1974; mẹ: Lê Thị Diệu L1, sinh năm 1974; vợ: Nguyễn Ngọc Cẩm T1, sinh năm 2005; con: chưa có;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, đến ngày 20/02/2025 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
3. Trần Duy Đ (tên gọi khác: R), sinh ngày 21/4/1992, tại thành phố H; nơi cư trú: Số B Đ, phường P, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên an ninh quán bar; trình độ học vấn: 09/12, giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Trần Văn T2, sinh năm 1954; mẹ: Lê Thị H, sinh năm 1954; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không
Về nhân thân: Ngày 28/3/2008, bị Công an thành phố H xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” theo quyết định số 17814/QĐ-XPHC;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, đến ngày 20/02/2025 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
4. Phan Văn Tuấn Đ1, sinh ngày 21/7/1994, tại thành phố H; nơi thường trú: Số D N, phường P, thành phố H; nơi ở hiện nay: Tổ dân phố M, phường H, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên quan bar; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Phan Văn N1, sinh năm 1974; mẹ: Lê Thị Diệu L1, sinh năm 1974; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, đến ngày 20/02/2025 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
5. Nguyễn Huy Đ2, sinh ngày 04/10/2002, tại thành phố H; nơi cư trú: Số C N, phường A, thành phố H; nghề nghiệp: Nhân viên an ninh quán bar; trình độ học vấn: 7/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Như N2, sinh năm 1960; mẹ: Nguyễn Thị N3, sinh năm 1971; vợ: Nguyên Thị Hoàng S (đã ly hôn), con: Có 02 con, lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2024; Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/02/2025, đến ngày 20/02/2025 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.
Ngoài ra, trong vụ án còn có 02 bị cáo khác nhưng không có kháng cáo, kháng nghị.
Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: Không
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 10 tháng 02 năm 2025, Nguyễn Văn D1 (sinh năm 1990, trú tại: 9 T, T, thành phố H) cùng Ngô Đức C (sinh năm 1995, trú tại: Thôn A, phường T, thành phố H), Trương Văn Đ3 (sinh năm 2001, trú tại: 1 T, phường T, thành phố H) và Ngô Đức T ngồi chơi và ăn uống tại bàn Vip 6 tầng 2 quán “Quận A B”, địa chỉ: số F V, phường T, thành phố H. Quá trình nhóm D1 ngồi chơi tại quán thì chị Lê Trần Nhật U (sinh năm 2007, trú tại: Kiệt A T, phường T, thành phố H) là nhân viên chăm sóc khách hàng của quán cho rằng có người trong bàn của Nguyễn Văn D1 vén váy của chị U nên chị U gọi Phan Văn Anh D là nhân viên an ninh của quán đến giải quyết. Lúc này, Trần Duy B đang ngồi chơi tại bàn Vip 8 tầng 2 của quán thấy chị U khóc nên B hỏi lý do vì sao chị U khóc thì chị U nói có khách ở bàn Vip 6 tầng 2 của quán vén váy chị U. Bi đi đến bàn của nhóm D1 và nói D1 phải xin lỗi chị U nhưng D1 không đồng ý thì D1 và B xảy ra xô xát nên D và anh Nguyễn Quốc H1 (sinh năm 2000, trú tại: Tổ F, KV3, phường A, thành phố H) là nhân viên an ninh của quán đến can ngăn nhóm của D1 và B không để xảy ra đánh nhau. Sau đó, B và D đi ra ngoài và đứng trước cửa chính tiền sảnh của quán “Quận A B".
Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày thì nhóm của D1 ra về, trong đó Ngô Đức T do bực tức về việc bị nhân viên an ninh của quán đẩy đuổi ra về nên khi T đi ngang qua bàn nhậu của quán cầm lấy 01 (một) chén bằng nhựa cứng, màu xanh. Khi đi ra bên ngoài, phía trước quán “Quận A B”, T cầm chén chạy đến chỗ của D đang đứng đánh liên tiếp 2 cái vào vùng phía trước đầu D gây thương tích. D bị đánh nên đã dùng tay, chân đánh lại T. Lúc này, nhóm nhân viên của quán bar gồm Phan Văn Tuấn Đ1, Hà Văn T3, Nguyễn Huy Đ2, Trần Duy Đ, thấy D bị đánh nên cùng xông vào dùng tay, chân đánh T, Trần Duy B cũng xông vào dùng tay chân đánh T. Sự việc đánh nhau tại quán bar "Quận A B” là nơi có nhiều nhà dân sinh sống, các quán nhậu, giải khát, khu vực tập trung nhiều khách du lịch trong và ngoài nước qua lại và vui chơi nên đã làm cho mọi người đang ăn uống trong quán và đang đi trên đường hoảng sợ. Đánh nhau được một lúc thì D1, Đ3, C và một số nhân viên khác của quán đến can ngăn rồi nhóm D1 đưa T bỏ đi, các nhân viên quán “Quận A B" quay lại làm việc. Hậu quả:
- Phan Văn Anh D bị vết thương vùng rách da đầu khoảng 1cm;
- Ngô Đức T bị vùng bầm tím mắt phải và xây xước vùng ngoài da nhẹ ở tay, chân.
+ Tại bản kết luận giám định số 70/25/KLTTCT ngày 14/02/2025 của Trung tâm Giám định y khoa pháp y thành phố H, kết luận đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của Phan Văn Anh D, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phan Văn Anh D tại thời điểm giám định là: 1% (một phần trăm),
Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: Các vết thương trên cơ thể phù hợp do vật tày có cạnh tác động sượt qua.
+ Tại bản kết luận giám định số 69/25/KLTTCT ngày 14/02/2025 của Trung tâm Giám định y khoa pháp y thành phố H, kết luận đối với tỷ lệ tổn thương cơ thể của Ngô Đức T, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ngô Đức T tại thời điểm giám định là: 01% (một phần trăm),
Vật gây, cơ chế hình thành thương tích: Các thương tích trên cơ thể phù hợp do vật tày tác động.
Phan Văn Anh D, Ngô Đức T đã bồi thường thiệt hại cho nhau; các bị cáo khác cũng đã bồi thường cho bị cáo Ngô Đức T và bị cáo D và bị cáo T không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự đối với thương tích của mình.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- - Thu giữ 01 (một) chén bằng nhựa cứng, màu xanh, đã qua sử dụng;
- - Thu giữ quán “Quận A B” các video hình ảnh ghi lại quá trình diễn biến đánh nhau trước mặt quán “Quận A B” địa chỉ: số F V, phường P, quận T, thành phố H vào ngày 10/02/2025 được ghi vào đĩa DVD.
* Xử lý vật chứng:
- Đối với các vật chứng nêu trên tiếp tục tạm giữ để phục vụ việc truy tố, xét xử.
* Về trách nhiệm dân sự Bị cáo Ngô Đức T đã bồi thường số tiền 2.000.000 đồng cho Phan Văn Anh D, các bị cáo Phan Văn Anh D, Phan Văn Tuấn Đ1, Hà Văn T3, Nguyễn Huy Đ2, Trần Duy Đ, Trần Duy B bồi thường số tiền 3.000.000 đồng cho Ngô Đức T, không ai có yêu cầu gì thêm.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS-ST ngày 21/5/2025 của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H, đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo: Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Hà Văn T3, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2, Trần Duy B phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Đức T 02 (hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 11/02/2025.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Duy Đ 06 (sáu) tháng tù; được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Anh D 04 (bốn) tháng tù; được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn Tuấn Đ1 04 (bốn) tháng tù; được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
- Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Đ2 04 (bốn) tháng tù; được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 11/02/2025 đến ngày 20/02/2025. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/5/2025, bị cáo Ngô Đức T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Huế xem xét giảm nhẹ hình phạt; ngày 28/5/2025 các bị cáo Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 giữ nguyên nội dung kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế phát biểu quan điểm về nội dung giải quyết vụ án:
- Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo là trong hạn luật định và hợp pháp; đảm bảo theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử hành vi phạm tội đối với các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Điều 318 của Bộ luật hình sự là có căn cứ pháp luật; tuy nhiên quá trình xảy ra vụ án bị cáo T và các bị cáo trong vụ án đều có lỗi trong việc gây thương tích cho bị cáo T và bị cáo Phan Văn Anh D; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho nhau và không yêu cầu khởi tố vụ án, cấp sơ thẩm không xem xét cho tất cả các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 là thiếu sót.
Đối với bị cáo Ngô Đức T thực hiện hành vi phạm tội bộc phát và chỉ dùng chén nhựa để đánh D, cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng định khung theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 để xử phạt 02 năm tù là có phần nghiêm khắc, nên đề nghị xem xét chấp nhận để giảm nhẹ mức hình phạt 09 tháng tù để xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù là thỏa đáng và phù hợp pháp luật.
Đối với bị cáo Phan Văn Anh D, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2, xét thấy: Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng; hành vi đồng phạm giản đơn, phạm tội với vai trò của các bị cáo không đáng kể; đủ điều kiện được hưởng các điều kiện quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự, mức hình phạt đối với các bị cáo là tương xứng nên cần chấp nhận một phần nội dung kháng cáo, giữ nguyên mức hình phạt và sửa bản án về biện pháp chấp hành hình phạt cho các bị cáo được hưởng án treo cũng đảm bảo tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
Đối với bị cáo Trần Duy Đ do có nhân thân: Ngày 28/3/2008, bị Công an thành phố H xử phạt cảnh cáo về hành vi “Cưỡng đoạt tài sản” nên cần xem xét chấp nhận một phần kháng cáo để giảm nhẹ mức hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt 04 tháng tù là thỏa đáng.
- Về án phí hình sự: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo được miễn theo quy định pháp luật.
Các bị cáo nhận tội, không tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận nội dung kháng cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để các bị cáo có cơ hội cải tạo tốt, có điều kiện giúp đỡ gia đình và chăm lo, nuôi dạy con cái.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
Bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 làm đơn kháng cáo trong thời hạn quy định, nội dung kháng cáo phù hợp các Điều 332, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự nên được chấp nhận đưa ra xét xử phúc thẩm theo luật định.
[2]. Về nội dung vụ án:
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; đã có cơ sở để kết luận:
Vào khoảng lúc 00 giờ 15 phút ngày 10 tháng 02 năm 2025, tại quán “Quận A B”, địa chỉ: số F đường V, phường T, thành phố H; nhóm của Ngô Đức T gồm có Nguyễn Văn D1, Ngô Đức C, Trương Văn Đ3 cùng ngồi chơi và ăn uống tại bàn Vip 6 tầng 2. Lúc này, chị Lê Trần Nhật U là nhân viên chăm sóc khách hàng của quán đang khóc và cho rằng có người trong bàn của Nguyễn Văn D1 vén váy của chị U, nên chị U gọi Phan Văn Anh D là nhân viên an ninh của quán đến giải quyết.
Trong quán có Trần Duy B đang ngồi chơi tại bàn Vip 8 tầng 2 của quán thấy chị U khóc nên B hỏi lý do vì sao chị U khóc thì chị U nói có khách ở bàn Vip 6 tầng 2 của quán vén váy chị U; B đi đến bàn của nhóm D1 và nói D1 phải xin lỗi chị U nhưng D1 không đồng ý thì D1 và B xảy ra xô xát. Cùng lúc này, Ngô Đức T từ trong nhà vệ sinh đi ra thấy hai bên cãi nhau nhưng không rõ đầu đuôi sự việc đã xông vào cãi nhau với nhóm của B và đòi đánh D nhưng đã được nhân viên an ninh của quán đến can ngăn.
Khoảng 00 giờ 30 phút cùng ngày thì nhóm của D1 ra về, lúc này Ngô Đức T do đã có uống nhiều bia rượu, đang còn bực tức về việc bị nhân viên an ninh của quán đẩy đuổi ra về nên khi đi ngang qua bàn nhậu, T có hành vi lấy 01 chén bằng nhựa cứng đánh vào đầu Phan Văn Anh D thì bị D dùng tay đánh lại.
Thấy Phan Văn Anh D bị T đánh nên Phan Văn Tuấn Đ1, Hà Văn T3, Nguyễn Huy Đ2, Trần Duy Đ và Trần Duy B đã cùng xông vào dùng tay, chân đánh Ngô Đức T, sự việc diễn ra khoảng 05 phút thì được mọi người can ngăn.
Hậu quả Ngô Đức T và Phan Văn Anh D bị thương tích nhẹ và đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án; các bên đã tự nguyện bồi thường dân sự cho nhau và đã được giải quyết theo quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của các bị cáo tại nơi là khu vực phố đi bộ về đêm, được sử dụng để người dân, khách du lịch đi bộ và cũng là nơi diễn ra các hoạt động văn hóa nghệ thuật đường phố, nơi tập trung nhiều quán bar, nhà hàng Ă. Khi sự việc xảy ra đã làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh, buôn bán, vui chơi giải trí của người dân và khách du lịch, gây mất trật tự công cộng, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến nét đẹp văn hóa địa phương.
Với hành vi phạm tội như đã nêu trên, Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H (cũ) đã kết án bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Ngô Đức T; kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ của các bị cáo Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình gây ra tại địa điểm nói trên sẽ làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự công cộng, an toàn xã hội nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo để xử phạt bị cáo Ngô Đức T 02 (hai) năm tù, Trần Duy Đ 06 (sáu) tháng tù, Phan Văn Anh D 04 (bốn) tháng tù, Phan Văn Tuấn Đ1 04 (bốn) tháng tù, Nguyễn Huy Đ2 04 (bốn) tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là cơ bản tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Tuy nhiên, xét thấy đây là vụ án có đồng phạm, phạm tội có tính chất giản đơn, không có sự phân công cấu kết; sự việc diễn ra do mâu thuẫn bộc phát, tức thời và trong thời gian ngắn.
Nguyên nhân mâu thuẫn đơn giản chỉ từ việc khi nghe chị Lê Trần Nhật U là nhân viên chăm sóc khách hàng của quán khóc và nói có người trong nhóm của D1 và T có hành vi vén váy của chị. Với chức trách, nhiệm vụ là nhân viên bảo vệ an ninh nhà hàng, lẽ ra nhóm các bị cáo Trần Duy Đ, Phan Văn Anh D, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2, Trần Duy B và Hà Văn T3 phải tìm hiểu rõ đầu đuôi sự việc để giải quyết, bảo vệ an ninh tại nhà hàng, bảo vệ an toàn cho khách và bảo vệ trật tự công cộng nói chung.
Do đó, khi thấy bị cáo T có hành vi gây gổ xô xát nhau với D, các bị cáo đã không can ngăn, giải thích, thuyết phục, tìm cách hóa giải để bảo vệ an ninh trật tự, đã thiếu kiềm chế, cậy số đông để xông vào đánh nhau với T là khách của quán dẫn đến hành vi phạm tội.
Cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự để xử phạt bị cáo Ngô Đức T 02 năm tù về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có phần nghiêm khắc; bởi lẽ cái bát nhựa do bị cáo đã dùng trực tiếp gây thương tích, tổn hại sức khỏe 01% cho bị cáo Phan Văn Anh D, đã được xem xét đánh giá chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” và bị cáo D đã có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án; đồng thời đã được xem xét để xử lý hành vi này đối với bị cáo T theo quy định pháp luật.
Quá trình giải quyết vụ án, bản thân bị cáo Ngô Đức T đã tự nguyện bồi thường đầy đủ thiệt hại sức khỏe cho bị cáo Phan Văn Anh D và ngược lại các bị cáo khác trong vụ án cũng đã bồi thường đầy đủ thiệt hại sức khỏe cho bị cáo T; nên nghĩ cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho tất cả các bị cáo như quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm.
Do đó, cần chấp nhận một phần đơn kháng cáo của tất cả các bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để xem xét giảm nhẹ hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt cụ thể đối với từng bị cáo, cụ thể:
- Đối với bị cáo Ngô Đức T áp dụng thêm điểm b khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
- Đối với bị cáo Trần Duy Đ, nhân thân ngày 28/3/2008 đã bị xử phạt hành chính và đã chấp hành xong; đủ điều kiện được xem xét là “có nhân thân tốt” để áp dụng theo quy định tại Điều 7 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi năm 2025 và khoản 2 Điều 2 Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Trong giai đoạn phúc thẩm, gia đình bị cáo có đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương do vợ đã bỏ đi lâu năm để lại con nhỏ cho bị cáo nuôi, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, hàng ngày phải đi làm thuê để nuôi con nhỏ và mẹ bị bệnh.
Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo 06 tháng tù là tương xứng nên cần giữ nguyên mức hình phạt đối với bị cáo; cần sửa biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo khoan hồng của pháp luật.
- Đối với các bị cáo Phan Văn Anh D, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 đều có nhân thân tốt; chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và hội đủ điều kiện áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự theo hướng dẫn tại Điều 2 Văn bản hợp nhất số 02/VBHN -TANDTC ngày 07 tháng 9 năm 2022 Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự để sửa một phần bản án sơ thẩm theo hướng giữ nguyên mức hình phạt, thay đổi biện pháp chấp hành hình phạt; áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để cho các bị cáo được hưởng án treo; tạo cơ hội cho các bị cáo có điều kiện cải tạo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật cũng đảm bảo góp phần răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
[4]. Án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo của các bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:
[1]. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Ngô Đức T; một phần kháng cáo của các bị cáo Phan Văn Anh D, (tên gọi khác: C1), Trần Duy Đ (tên gọi khác: R), Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2; sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 81/2025/HS - ST ngày 21 tháng 5 năm 2025 của Tòa án nhân dân quận Thuận Hóa, thành phố H (nay là Tòa án nhân dân khu vực 1 - Huế) về hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt.
[2]. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D (tên gọi khác: Cu), Trần Duy Đ (tên gọi khác: R), Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2, phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
[3]. Về hình phạt:
[3.1]. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Ngô Đức T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt tạm giữ 11/02/2025.
[3.2]. Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Duy Đ (tên gọi khác: R) 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
[3.3]. Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn Anh D, (tên gọi khác: Cu) 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
[3.4]. Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn Tuấn Đ1 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Trần Duy Đ (tên gọi khác: R), Phan Văn Anh D (tên gọi khác: Cu) và Phan Văn Tuấn Đ1 cho Ủy ban nhân dân Phường P, thành phố H giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
[3.5]. Áp dụng khoản 1 Điều 318; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy Đ2 04 (bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 12 tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Huy Đ2 cho Ủy ban nhân dân Phường A, thành phố H giám sát, quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách quy định tại khoản 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015:
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
[4]. Án phí hình sự phúc thẩm:
Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo Ngô Đức T, Phan Văn Anh D, Trần Duy Đ, Phan Văn Tuấn Đ1, Nguyễn Huy Đ2 không phải chịu.
[5]. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6]. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Thanh |
Bản án số 105/2025/HS-PT ngày 19/08/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 105/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 19/08/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm
