| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
| Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| Bản án số: 105/2025/HS-PT | |
| Ngày 16 - 12 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Duy Lam
Các Thẩm phán: Bà Đinh Thị Như Phượng
Bà Đỗ Thị Thắm
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều Ngân – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 119/2025/TLPT-HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Văn T do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 05/2025/HS-ST ngày 11 tháng 8 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 5 – Gia Lai.
- Bị cáo bị kháng cáo:
Nguyễn Văn T, sinh ngày 15/01/1988 tại tỉnh Bình Định (nay là tỉnh Gia Lai); số căn cước công dân: [...]; nơi cư trú: Thôn B, xã K, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1953 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm: 1954; vợ, con: Không có; tiền án, tiền sự: Không; bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Dương Ngọc Ẩ, sinh ngày: 01/5/1978, số căn cước công dân: [...]; cư trú tại: Thôn B, xã K, tỉnh Gia Lai. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 30 phút ngày 29/01/2025 (tức ngày mùng 1 Tết nguyên đán), Nguyễn Văn T đang chơi chúc tết tại nhà ông Nguyễn Văn T1 ở thôn B, xã K, tỉnh Gia Lai và đồng thời có các ông bà Võ Thị Ngọc T2, Dương Ngọc Á, Võ Viết H, Nguyễn Văn N, Dương Đ1, Võ Văn N1 ở cùng địa phương cũng đến chúc tết. Khoảng 12 giờ cùng ngày, anh Dương Trường G (là con của ông Ầ - bà T2) cũng vào nhà ông T1 chơi. Khi thấy anh G vào, bà T2 nói “Con đừng có vào đó chơi, có thằng T đêm hôm qua nó chặt cây chuối xả xuống ruộng nhà mình”. Nghe bà T2 nói vậy, anh G liền đi đến chỗ T đang ngồi hỏi T “Sao chú xả cây chuối xuống ruộng nhà con?”. T nói lại “Mầy có thấy tao làm không mà nói?”. Lúc này, T vừa nói vừa dùng tay nắm cổ áo của anh G nên bà T2 nói “Mầy đánh con tao hín” và dùng tay xỉ, cào cấu vào người T thì được nhiều người can ngăn. T đi nhặt một đoạn miếng ván gỗ (dài khoảng 01m, nơi rộng nhất khoảng 15cm) đang bắt qua mương gần đó để đánh bà T2 và anh G nhưng được mọi người can ngăn, giật lấy miếng ván. Sau đó, T lấy xe máy đi về nhà cách nhà ông T1 khoảng 400m.
Khi về đến nhà, T đi tìm cây để xuống đánh anh G nhưng không có. T tìm được một cái rựa có cán bằng gỗ dài 40cm, lưỡi bằng sắt dài 25cm, rộng 3,5cm để ở chuồng heo. T giấu rựa trong áo khoác rồi đi bộ đến nhà ông T1 để tìm anh G. Khi đi đến đoạn trước nhà ông Võ Hồng P1 thì thấy anh G và bà T2 đang trên đường đi về, T liền lấy rựa giấu trong áo khoác ra để đánh anh G. Thấy vậy, anh G bỏ xe máy chạy bộ về hướng nhà ông T1. T cầm rựa đuổi theo, anh G chạy rẽ vào đường bê tông, T chạy phía sau dùng rựa ném về phía anh G nhưng không trúng. Thấy vậy, bà T2 hô hoán và lúc này ông A nghe nên từ nhà ông T1 chạy đến để can ngăn. Khi ông A đến thấy anh G đang cầm rựa nên xông đến trước mặt T can ngăn thì bị T dùng rựa chém trúng vào kheo chân trái của ông  gây thương tích. Ông A tiếp tục xông vào người T nói “Mầy chém chết tao đi” thì có bà Nguyễn Thị P (mẹ của T) đến ôm T giật lấy rựa và dẫn T đi về nhà, lúc này khoảng 12 giờ 30 phút.
Hậu quả, ông Dương Ngọc Ẩ được đưa đến Trạm y tế X sơ cứu vết thương và điều trị tại Trung tâm y tế huyện H từ ngày 30/01/2025 đến ngày 03/02/2025 thì xuất viện.
Tại Kết luận giám định số 40/KTTTCT-PYBĐ ngày 18/3/2025, Trung tâm pháp y tỉnh B (nay là Trung tâm pháp y tỉnh G) kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của ông A tại thời điểm giám định là 01%.
Ngày 25/3/2025, ông A có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Về phần dân sự, bị cáo Nguyễn Văn T đã tự nguyện nộp 1.000.000 đồng tại Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai để bồi thường một phần thiệt hại cho bị hại.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 05/2025/HS-ST ngày 11/8/2025, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Gia Lai đã căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 26/8/2025, bị hại ông Dương Ngọc Ẩ kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với với bị cáo Nguyễn Văn T.
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Á giữ nguyên yêu cầu kháng cáo nêu trên và bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Â, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Á, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với các chứng cứ khác nên có đủ cơ sở xác định:
Do có mâu thuẫn với nhau nên sáng ngày 29/01/2025 tại khu vực trước nhà ông Nguyễn Văn T1 ở thôn B, xã K, tỉnh Gia Lai, Nguyễn Văn T đã có hành vi dùng rựa chém trúng vào chân trái của ông Dương Ngọc Á gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01%. Ngày 25/3/2025, ông A có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Do đó, Tòa án nhân dân khu vực 5 – Gia Lai đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Dùng hung khí nguy hiểm” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T của ông Dương Ngọc Ẩ, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Hành vi của bị cáo là đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác, gây mất trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm.
Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo đã tự nguyện nộp tiền khắc phục một phần hậu quả; ngoài ra, cha bị cáo là thương binh loại A và trong vụ án này, tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại không lớn. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo T 06 tháng tù là phù hợp, đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung. Ngoài ra, xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù do bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội và bị cáo đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo của ông Â, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo.
[3] Theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì ông A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị không chấp nhận kháng cáo của ông Ẩ, giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với bị cáo T là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Dương Ngọc Ẩ. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 11/8/2025).
Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Gia Lai giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Ông Dương Ngọc Ẩ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Phạm Duy Lam |
Bản án số 105/2025/HS-PT ngày 16/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về cố ý gây thương tích (hình sự phúc thẩm)
- Số bản án: 105/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích”
