TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 5 - 2025 V/v Ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Sơn Ngọc Trọng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đào Việt Khái.
Bà Đoàn Thị Sim.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 46/2025/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2025 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Phạm Văn K, sinh năm 1968 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Bà Lê Bích T, sinh năm 1972 (có mặt).
Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Tô Văn C - Luật sư, Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 11/02/2025, cùng các văn bản kèm theo và tại phiên tòa ông Phạm Văn K trình bày:
Về hôn nhân: Vào năm 1990, ông Phạm Văn K và bà Lê Bích Thủy C1 sống với nhau như vợ chồng, không có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Trong thời gian chung sống xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm, dẫn đến cự cãi, cuộc sống chung mâu thuẫn kéo dài. Nay ông Phạm Văn K yêu cầu ly hôn với bà Lê Bích T.
Về con chung: Có 03 người con chung tên Phạm Kha L, sinh ngày 06/02/1992, Phạm Ly K1, sinh ngày 24/10/1993 và Phạm Hoàng K2, sinh ngày 06/02/1995. Hiện các con chung đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Có căn nhà cây lá địa phương, vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Quá trình chung sống giữa ông và bà T có nợ của bà Phạm Út M 100.000.000 đồng và nợ Ngân hàng N – chi nhánh huyện P 800.000.000 đồng và nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện P 20.000.000 đồng. Đối với số tiền nợ là 920.000.000 đồng, ông yêu cầu để ông, bà T tự thỏa thuận với các chủ nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa bị đơn là bà Lê Bích T trình bày:
Về hôn nhân: Bà thống nhất phần trình bày của ông Phạm Văn K về thời gian chung sống và việc không có đăng ký kết hôn. Giữa bà và ông Phạm Văn K chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bà phát hiện ông K có tình cảm với người phụ nữ khác, ông K nhiều lần đánh đập bà nay xét thấy không thể tiếp tục cuộc sống chung. Nay bà đồng ý ly hôn theo yêu cầu ông Phạm Văn K.
Về con chung: Có 03 người con chung tên Phạm Kha L, sinh ngày 06/02/1992, Phạm Ly K1, sinh ngày 24/10/1993 và Phạm Hoàng K2, sinh ngày 06/02/1995. Hiện các con chung đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống giữa bà và ông K có 01 phần đất nuôi trồng thủy sản diện tích khoảng 15 công, 03 căn nhà cây lá địa phương, 01 chiếc xe mô tô. Tuy nhiên, tại phiên tòa bà yêu cầu tự thỏa thuận với ông K nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Nợ tiền mượn của bà Lê Thị T1 360.500.000 đồng, nợ bà Lê Thị H 40.000.000 đồng, nợ bà Nguyễn Cẩm T2 30.000.000 đồng, nợ ông Phạm Văn O 02 chỉ vàng 24K, bà Phạm Út M 100.000.000 đồng, nợ bà Nguyễn Nhật T3 278.000.000 đồng, nợ Ngân hàng N – chi nhánh huyện P 800.000.000 đồng và nợ Ngân hàng chính sách xã hội huyện P 20.000.000 đồng. Tổng số nợ 1.655.500.000 đồng. Nay bà yêu cầu nợ chung tự thỏa thuận với các chủ nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn ông Tô Văn C trình bày: Ông thống nhất với phần trình bày của bà Lê Bích T không có ý kiến bổ sung thêm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng: Vụ án tranh chấp ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân cấp huyện, thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo lãnh thổ, được quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bà Tô Văn C xin vắng mặt tham gia phiên tòa. Nay căn cứ vào khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt là có căn cứ.
[2] Về hôn nhân: Năm 1990, ông Phạm Văn K và bà Lê Bích Thủy C1 sống với nhau như vợ chồng nhưng không có đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm thường xuyên tranh cãi, xúc phạm lẫn nhau. Ông Phạm Văn K xác định không còn tình cảm dành cho bà Lê Bích T và ông Phạm Văn K cương quyết ly hôn. Bà Lê Bích T xác định ông K có tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến nhiều lần đánh đập bà, nay bà T thống nhất yêu cầu ly hôn của ông K. Xét thấy, quan hệ hôn nhân của ông Phạm Văn K và bà Lê Bích T không thể tiếp tục duy trì, mục đích hôn nhân không đạt được. Hôn nhân giữa ông Phạm Văn K và bà Lê Bích T đã và đang trong tình trạng trầm trọng. Do hôn nhân giữa ông K và bà T đã vi phạm quy định về điều kiện kết hôn theo Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình nên ông Phạm Văn K và bà Lê Bích T không được công nhận là vợ chồng.
[3] Về con chung: Có 03 người con chung tên Phạm Kha L, sinh ngày 06/02/1992, Phạm Ly K1, sinh ngày 24/10/1993 và Phạm Hoàng K2, sinh ngày 06/02/1995. Hiện các con chung đã trưởng thành tự lao động nuôi sống bản thân không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung: Tự thỏa thuận nên không đặt ra xem xét.
[5] Về nợ chung: Ông K và bà T có nợ chung nhưng không thống nhất được lượng nợ, mặt khác tại phiên tòa ông K và bà T thống nhất yêu cầu tự thương lượng với các chủ nợ, nên không đặt ra xem xét.
[6] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Văn K phải chịu theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng vào các điều 9, 14 và 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ các điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
- Về hôn nhân: Không công nhận ông Phạm Văn K và bà Lê Bích T là vợ chồng.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông Phạm Văn K phải chịu 300.000 đồng. Ông Phạm Văn K đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền số 0003808 ngày 11/02/2025, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, nay chuyển thu.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
Ông Phạm Văn K và bà Lê Bích T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Ngọc Trọng |
Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn
- Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Phạm Văn K yêu cầu ly hôn với bà Phạm Bích T
