Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 6 - 2025

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Thu Hiền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hoài

Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Na - Thư ký tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Thanh Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 77/2025/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 03 năm 2025 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 97/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Võ Thị X, sinh năm 1981; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Y, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ hiện tại: Rhiemsweg 102c, 2211 H - Cộng hòa liên bang Đ (Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt).

Bị đơn: Anh Võ Nhân T, sinh năm 1978; Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt và có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có tại hồ sơ vụ án chị Võ Thị X trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị X và anh Võ Nhân T đăng ký kết hôn vào ngày 26/9/2001 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hoà thuận, hạnh phúc. Tuy nhiên sau khoảng thời gian chung sống với nhau thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và theo thời gian ngày càng gay gắt, không thể khắc phục, hàn gắn được, thường xuyên có những lời nói, hành vi xúc phạm nhau. Nguyên nhân xảy ra mâu thuẫn do quan điểm sống không hoà hợp, giữa anh T và chị X không còn tình cảm và tiếng nói chung. Từ năm 2021 vợ chồng đã ly thân và không còn liên lạc với nhau cho đến nay. Nay chị X xác định tình trạng hôn nhân của vợ chồng quá trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Võ Thị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Võ Thị X được ly hôn anh Võ Nhân T.

- Về con chung và cấp dưỡng: Vợ chồng có 03 con chung gồm: Cháu thứ nhất là Võ Thị T1, sinh ngày 06/01/2003; Cháu thứ hai là Võ Thị T2, sinh ngày 06/02/2005; Cháu thứ ba là Võ Thị Thùy L, sinh ngày 26/11/2015.

Hiện nay hai cháu Võ Thị T1 và Võ Thị T2 đã trên 18 tuổi nên chị X không yêu cầu Tòa án giải quyết. Còn cháu Võ Thị Thùy L đã trên 07 tuổi, đang do bố đang trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy chị X yêu cầu Tòà án giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của cháu L. Trong trường hợp cháu L muốn được bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng thì chị X sẽ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/ tháng kể từ thời điểm quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi.

- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Võ Thị X không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án chị X đã được tiếp cận đầy đủ tài liệu do anh T giao nộp cũng như các văn bản tố tụng của Tòa án. Do đang ở Cộng hòa liên bang Đ và điều kiện công việc nên không về giải quyết vụ án được nên chị X đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải đồng thời xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình tố tụng và ủy quyền việc giao nhận tài cho chị Nguyễn Thị X1, sinh ngày 10/01/1999, địa chỉ: Số nhà A, đường L, phường B, thành phố H, tỉnh Hà Tĩnh.

Tại Biên bản xác minh và Biên bản làm việc ngày 23/5/2025 anh Võ Nhân T trình bày:

Anh T và chị X kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn hợp pháp với nhau vào ngày 26/9/2001 tại UBND xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hoà thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do mâu thuẫn với nhau trong tính cách, quan điểm sống nên tình cảm ngày càng nhạt dần. Đến năm 2021 thì chị X đi lao động tại Cộng hoà liên bang Đức, từ đó vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Về vấn đề ly hôn anh T cho biết anh T không đồng ý ly hôn với chị X vì không muốn cắt đứt tình cảm gia đình và con cái. Từ khi vợ chồng xảy ra mâu thuẫn với nhau vợ chồng đã tự hoà giải với nhau nhưng chưa được chính quyền địa phương hoà giải.

Về con chung anh T thừa nhận đã có với nhau 03 con chung như chị X trình bày gồm: Cháu thứ nhất là Võ Thị T1, sinh ngày 06/01/2003; Cháu thứ hai là Võ Thị T2, sinh ngày 06/02/2005; Cháu thứ ba là Võ Thị Thùy L, sinh ngày 26/11/2015. Hiện nay hai cháu Võ Thị T1 và Võ Thị T2 đã trên 18 tuổi nên anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu Võ Thị Thùy L đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Anh T không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung anh T không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án do bận công việc gia đình nên anh T đề nghị được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và các phiên tòa xét xử vụ án.

Ngoài ra, anh T đã được tiếp cận đầy đủ các tài liệu do chị X giao nộp cũng như các thông báo làm việc và văn bản thủ tục tố tụng khác của Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau đã đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ Luật Tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội khóa XIV, cụ thể:

  • - Về tình cảm: Chị Võ Thị X được ly hôn anh Võ Nhân T.
  • - Về con chung: Do cháu Võ Thị T1, sinh ngày 06/01/2003 và cháu Võ Thị T2, sinh ngày 06/02/2005 đã trên 18 tuổi các bên đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét; Giao cháu Võ Thị Thùy L, sinh ngày 26/11/2015 cho anh Võ Nhân T được trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng cháu L đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Chị Võ Thị X được quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được phép cản trở.
  • - Về cấp dưỡng: Do anh Võ Nhân T không yêu cầu chị Võ Thị X phải cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Chị Võ Thị X và anh Võ Nhân T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét.
  • - Về án phí: Chị Võ Thị X phải chịu án phí giải quyết vụ án ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có xác nhận của Đ1 tại Cộng hòa liên bang Đ do chị Võ Thị X gửi cho Tòa án thể hiện chị Võ Thị X đang sinh sống và làm việc tại Rhiemsweg 102c, 2211 H - Cộng hòa liên bang Đ. Tại Công văn số 444/QLXNC-Đ1 của Phòng quản lý Xuất nhập cảnh Công an tỉnh H thể hiện: Chị Võ Thị X xuất cảnh ngày 17/11/2022, không thấy thông tin nhập cảnh về nước. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự. Đồng thời, chị X và anh T đều có yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án xét xử vắng mặt chị Võ Thị X và anh Võ Nhân T theo quy định pháp luật.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân:

Chị Võ Thị X và anh Võ Nhân T đăng ký kết hôn vào ngày 26/9/2001 tại UBND xã T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh. Hôn nhân tự nguyện, không bị ai ép buộc nên hôn nhân giữa chị X và anh T là hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được một thời gian thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và theo thời gian ngày càng gay gắt, không thể khắc phục, hàn gắn được, nên tình cảm vợ chồng ngày càng nhạt dần. Đến năm 2021 thì chị X đi lao động tại Cộng hoà liên bang Đ và từ đó đến nay vợ chồng không còn liên lạc với nhau nữa. Anh T cho biết anh T không đồng ý ly hôn với chị X vì không muốn cắt đứt tình cảm gia đình và con cái.

Xét thấy mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, tiến bộ, vợ chồng phải tôn trọng, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau nhưng cuộc hôn nhân giữa chị X và anh T không còn đạt được mục đích đó, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng. Từ năm 2019 đến nay vợ chồng đã không còn liên lạc, hỏi thăm nhau nữa. Tuy anh T không đồng ý ly hôn nhưng không có biện pháp để khắc phục và hàn gắn tình cảm vợ chồng, hiện nay vợ chồng sống mỗi người một nơi không có khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 để chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Võ Thị X.

[2.2] Về con chung: Chị X và anh T có với nhau 03 con chung gồm: Cháu thứ nhất là Võ Thị T1, sinh ngày 06/01/2003; Cháu thứ hai là Võ Thị T2, sinh ngày 06/02/2005; Cháu thứ ba là Võ Thị Thùy L, sinh ngày 26/11/2015.

Hiện nay hai cháu Võ Thị T1 và Võ Thị T2 đã trên 18 tuổi, có khả năng lao động chị X và anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét. Còn đối với cháu Võ Thị Thùy L, sinh ngày 26/11/2015 hiện nay đang do anh T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Vì vậy chị X yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật và theo nguyện vọng của cháu L. Trong trường hợp cháu L muốn được bố trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng thì chị X sẽ cấp dưỡng nuôi con chung là 2.500.000 đồng/ tháng kể từ thời điểm quyết định hoặc bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu L đủ 18 tuổi. Còn anh T có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L đến khi cháu L đủ 18 tuổi và không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy từ khi chị X đi nước ngoài đến nay cháu L sống cùng với anh T, được anh T chăm sóc, giáo dục, học hành đảm bảo, cháu L cũng có nguyện vọng được ở với anh T. Do đó, để tiếp tục đảm bảo cuộc sống và tâm lý ổn định cho cháu Võ Thị Thùy L xét thấy cần giao cháu L cho anh Võ Nhân T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định của pháp luật, với nguyện vọng của con chung và nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh của mỗi bên đương sự. Chị X được quyền thăm nom, chăm sóc con chung mà không ai được cản trở.

[2.3] Về cấp dưỡng: Chị X tự nguyện cấp dưỡng mỗi tháng 2.500.000 đồng tuy nhiên anh T không yêu cầu chị X phải cấp dưỡng nuôi con nên Tòa án không xem xét. Vấn đề này sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi các bên có yêu cầu.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83, 123 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; Điều 39, 227, 228, 271, 273, 464, 469, 479; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Võ Thị X. Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị X được ly hôn với anh Võ Nhân T.
  2. Về con chung và cấp dưỡng: Giao con chung là cháu Võ Thị Thùy L, sinh ngày 26/11/2015 cho anh Võ Nhân T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Võ Thị X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Chị Võ Thị X không phải cấp dưỡng nuôi con.
  3. Về án phí: Buộc chị Võ Thị X phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị X đã nộp theo biên lai số [...] ngày 24/3/2025 của Cục Thi hành án Dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã Thiên Lộc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 18/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân gia đình giữa chị Võ Thị X và anh Võ Nhân T.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger