Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ QUY NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 18 - 02 - 2025

“V/v Ly hôn giữa chị Như và anh Vũ”

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Định

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Hồ Đắc Toàn

Ông Nguyễn Tấn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Tòa án

nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình

Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phước - Kiểm sát viên;

Ngày 18 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 880/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 418/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 12 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, địa chỉ: A U, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. (Có đơn xin vắng mặt)

- Bị đơn: Anh Võ Văn V, địa chỉ: H L, tổ B, khu phố E, phường H, thành phố Q. (Có mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Tại đơn khởi kiện đề ngày 24 tháng 6 năm 2024 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày:

Chị và anh Võ Văn V đăng ký kết hôn vào ngày 28.01.2022 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường nhưng thời gian sau khoảng tháng 10/2023 vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn nguyên nhân do vợ chồng kinh tế khó khăn, anh V không quan tâm đến vợ con, cả hai không tìm được tiếng nói chung. Nay chị nhận thấy tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn anh V.

Về con chung: Quá trình chung sống, vợ chồng có một con chung là cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 22.12.2021, sức khỏe bình thường. Sau khi vợ chồng mâu thuẩn khoản tháng 01/2024 anh V có dẫn cháu N1 nói về chơi nhưng anh V giữ cháu từ đó cho đến nay. Nếu ly hôn chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu N1; Về cấp dưỡng: Chị yêu cầu anh N1 cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết.

- Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Võ Văn V trình bày:

Anh thống nhất về thời gian, điều kiện kết hôn như chị N trình bày. Theo anh trong quá trình chung sống vợ chồng cũng phát sinh mâu thuẫn, những lúc nóng giận anh có dùng lời lẽ không đúng chuẩn mực, tuy nhiên theo anh một phần cũng do chị N có quan hệ với người khác. Nay chị N yêu cầu ly hôn anh đồng ý.

Về con chung: Thống nhất như trình bày của chị N về con chung. Quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 22.12.2021, sức khoẻ bình thường, hiện cháu N1 đang ở với anh. Nếu ly hôn, anh yêu cầu được nuôi cháu N1; Về cấp dưỡng: Anh đề nghị Toà giải quyết theo quy định. Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà giải quyết.

Tại phiên tòa sơ thẩm, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm HĐXX nghị án đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Về việc giải quyết vụ án đề nghị HĐXX áp dụng Điều 55, 81, 82 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị N; Về con chung: Giao con chung là cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 21.12.2021 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng; Về cấp dưỡng: Anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng; Về tài sản: Không yêu cầu Toà giải quyết. Đương sự phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt nhưng chị N đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ quy định tại Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự Tòa tiến hành xét xử vắng mặt chị N.

[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Võ Văn V tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 28 tháng 01 năm 2022 tại Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Q, tỉnh Bình Định nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc bình thường nhưng sau đó bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân theo chị N trình bày, do cả hai không phù hợp về quan điểm sống, anh V thường ghen tuông, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, nay chị nhận thấy tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn anh V. Bị đơn anh V thống nhất theo yêu cầu ly hôn của chị N. HĐXX thấy rằng, mâu thuẫn giữa chị N, anh V là trầm trọng, tình cảm giữa chị N, anh V thực sự không còn, khả năng hàn gắn là điều không thể, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà bị đơn anh V đồng ý ly hôn, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị N là có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: Chị N, anh V thống nhất quá trình chung sống, vợ chồng có 01 con chung là cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 22.12.2021, sức khoẻ bình thường và hiện đang sống với anh V. Tòa Xét việc giao con cho ai nuôi là phải xem xét đến các điều kiện, hoàn cảnh thực tế của người nuôi dưỡng có đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cũng như sự phát triển bình thường của đứa trẻ hay không. Xét chị N có công việc, thu nhập và chỗ ở ổn định đủ điều kiện để nuôi cháu N1, mặt khác cháu N1 sinh ngày 22.12.2021 hiện còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của mẹ, căn cứ quy định tại Khoản 3 Điều 81 Luật HNGĐ giao cháu N1 cho chị N được trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bị đơn anh V cho rằng nếu ly hôn anh yêu cầu được nuôi con nhưng anh không chứng minh được nguồn thu nhập, công việc làm ổn định do đó không có căn cứ để chấp nhận đề nghị được nuôi con của anh V.

Về cấp dưỡng: Nguyên đơn chị N yêu cầu bị đơn anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng. Bị đơn anh V không đồng ý mà đề nghị Toà xem xét theo quy định. Xét thấy người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Xét nhu cầu thực tế và để bảo đảm những chi phí tối thiểu cho việc nuôi dưỡng và học hành của cháu N1, phù hợp với khả năng thu nhập thực tế của anh V buộc anh V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 02/2025 là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, Toà không giải quyết.

[5] Về án phí: Theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội chị N phải chịu 300.000 đồng án phí HNGĐ-ST.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Võ Văn V.
  2. Về con chung:
    1. Quá trình chung sống, chị Nguyễn Thị N và anh Võ Văn V thống nhất vợ chồng có 01 con chung là cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 22.12.2021, sức khoẻ bình thường, hiện đang sống chung với anh Võ Văn V.
    2. Buộc bị đơn anh Võ Văn V phải có nghĩa vụ giao con chung là cháu Võ Hữu N1 sinh ngày 22.12.2021 cho chị Nguyễn Thị N được trực tiếp nuôi dưỡng.
    3. Về cấp dưỡng: Anh Võ Văn V phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Võ Hữu N1, sinh ngày 22.12.2021 mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng/tháng) kể từ tháng 02/2025 cho đến khi cháu N1 đủ 18 tuổi.

Vì lợi ích của con, một hoặc hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

Bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu, Toà không giải quyết.
  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ án phí HNGĐ-ST, được khấu trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000506 ngày 10/10/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn (Chị N đã nộp xong); Anh V phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí về cấp dưỡng.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định; Bị đơn anh Võ Văn V có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND, CCTHADS Tp Quy Nhơn;
  • - TANDTP. Quy Nhơn;
  • - UBND P. Hải Cảng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Định

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị N ly hôn anh Võ Văn V
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger