|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 10/6/2025
V/v ly hôn, nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Kim Quyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt;
- Bà Mai Thị Thu Hà.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên toà:
Không.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2025/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 145/2025/QĐXX-ST ngày 07 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 147/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh L, sinh năm 1982; (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Nơi cư trú: tổ C, ấp D, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
SĐT: 0988.422.xxx
2. Bị đơn: Chị Hồ Thị Trúc Đ, sinh năm 1983; (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Nguyên đơn anh Nguyễn Minh L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: anh và chị Hồ Thị Trúc Đ do tìm hiểu tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới, có đăng ký kết hôn năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Từ đó dẫn đến tình cảm, vợ chồng không còn, không tìm được hạnh phúc. Anh và chị Đ ly thân từ đầu năm 2024 đến nay. Nhận thấy, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh yêu cầu ly hôn với chị Đ.
- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Nguyễn Hồ Hải Đ1, sinh ngày 08/8/2012. Hiện con chung đang sống với chị Đ. Khi ly hôn anh L đồng ý giao cháu Đ1 cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, anh đồng ý cấp dưỡng cho cháu Đ1 mỗi tháng là 1.500.000 đồng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Toà án đã nhiều lần triệu tập bị đơn chị Hồ Thị Trúc Đ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như tham gia phiên toà nhưng chị Đ đều vắng mặt không có lý do, đồng thời cũng không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về áp dụng pháp luật tố tụng:
[1.1] Quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn anh Nguyễn Minh L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn chị Hồ Thị Trúc Đ, bị đơn chị Đ hiện có nơi cư trú tại: ấp P, xã B, huyện C, tỉnh An Giang, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là vụ án về tranh chấp ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự:
Ngày 07/5/2025, nguyên đơn anh Nguyễn Minh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt được Hội đồng xét xử chấp nhận. Bị đơn chị Hồ Thị Trúc Đ đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
[2] Về áp dụng pháp luật nội dung:
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh L thấy:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Theo nguyên đơn anh L trình bày thì anh và bị đơn chị Hồ Thị Trúc Đ do tìm hiểu mới tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật, nên hôn nhân của anh chị được xem là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn theo anh L trình bày vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không tìm được hạnh phúc. Anh và chị Đ ly thân từ đầu năm 2024 đến nay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã nhiều lần mở phiên hoà giải nhằm tạo điều kiện để anh L và chị Đ hàn gắn tình cảm, nhưng anh L vẫn kiên quyết ly hôn, chị Đ được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không lý do, cũng như không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Điều này chứng tỏ chị Đ không có nguyện vọng đoàn tụ với anh L. Chị Đ và anh L đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, nhưng anh, chị không hàn gắn tình cảm lại được.
Tất cả điều này cho thấy hôn nhân của anh L và chị Đ đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh L.
[2.2] Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Nguyễn Hồ Hải Đ1, sinh ngày 08/8/2012. Hiện con chung đang sống với chị Đ. Xét thấy, cháu Hải Đ1 đã sống ổn định với chị Đ, anh L cũng đồng ý giao con chung cho chị Đ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, để đảm bảo cuộc sống của cháu Hải Đ1 được ổn định, không bị xáo trộn sau khi cha mẹ ly hôn nên căn cứ quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cháu Hải Đ1 cho chị Đ tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; chị Đ phải tạo điều kiện thuận lợi cho anh L được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung, không ai cản trở khi anh L thực hiện quyền này.
Về cấp dưỡng: anh L không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Hải Đ1 nên có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật. Trong quá trình tố tụng anh L đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu Hải Đ1 theo phương thức định kỳ hàng tháng, với mức cấp dưỡng 1.500.000 đồng/tháng. Xét thấy, việc đồng ý cấp dưỡng của anh L là phù hợp với quy định pháp luật và đạo đức xã hội. Thời gian cấp dưỡng sẽ tính từ ngày 10/6/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng do chị Đ đại diện nhận.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Về án phí: Anh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008178 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Anh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh L.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Minh L được ly hôn với chị Hồ Thị Trúc Đ.
- Về quan hệ con chung: có 01 con chung tên: Nguyễn Hồ Hải Đ1, sinh ngày 08/8/2012. Chị Hồ Thị Trúc Đ được quyền tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hồ Hải Đ1.
Về cấp dưỡng: anh L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo phương thức định kỳ hàng tháng, với mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng tính từ ngày 10/6/2025 cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng do chị Đ đại diện nhận.
Chị Đ cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh L thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Hồ Hải Đ1.
Nếu người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người còn lại thì người còn lại có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, theo yêu cầu của con, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con dựa trên các quy định của pháp luật.
- Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu Toà án giải quyết. Trường hợp sau này có phát sinh tranh chấp sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.
- Về án phí: Anh Nguyễn Minh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân gia đình, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí số 0008178 ngày 26/3/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Anh L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Anh Nguyễn Minh L và chị Hồ Thị Trúc Đ được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Kim Quyên |
Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh L yêu cầu ly hôn với chị Đ
