|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST
Ngày 08-4-2025
V/v tranh chấp xin ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Ngô Văn Đen.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Văn Công Trọn,
2. Ông Duyên Văn Hiền.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Huỳnh Hiếu Nghĩa – Thư ký tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời.
Ngày 08 tháng 4 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 541/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2024, về việc “Tranh chấp xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 62/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Tạ Chí C. Sinh năm: 1989 (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Võ Thị Cẩm T. Sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu trong quá trình tố tụng, ông Tạ Chí C trình bày:
Về hôn nhân: Ông C và bà T kết hôn với nhau vào năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, việc kết hôn là tự nguyện. Nguyên nhân dẫn đến ly hôn được ông C xác định là trong thời gian chung sống vợ chồng không hòa hợp với nhau, quan điểm sống khác nhau nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, không tự hàn gắn được, hiện nay ông bà đã không còn sống chung với nhau. Xét thấy hôn nhân không hạnh phúc, ông C xác định tình cảm vợ chồng không thể tiếp tục. Nay ông C yêu cầu được ly hôn với bà T.
Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Thị Trinh T1, sinh ngày 26/4/2018 đang chung sống cùng ông C, khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn Võ Thị Cẩm T đúng theo quy định pháp luật nhưng bà T không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn bà Võ Thị Cẩm T có nơi cư trú tại ấp K, xã K, huyện T, tỉnh Cà Mau nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông C khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với bà T nên quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án được xác định là "Tranh chấp xin ly hôn" theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông C xin xét xử vắng mặt, bà T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia xét xử nhưng vẫn vắng mặt, căn cứ theo Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Tòa án xét xử vắng mặt ông C, bà T theo quy định của pháp luật.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Ông bà tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại UBND xã K vào năm 2018 đúng theo quy định tại Điều 9 của Luật hôn nhân và gia đình. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa ông bà được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, gia đình hai bên có hàn gắn nhưng không thành, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, hiện ông bà không còn sống chung với nhau. Ông C xác định không còn tình cảm vợ chồng với bà T và thể hiện sự quyết tâm mong muốn được ly hôn. Trường hợp nếu cho các bên tiếp tục chung sống sẽ không mang lại hạnh phúc, do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của ông C được ly hôn với bà T.
[3] Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Thị Trinh T1, sinh ngày 26/4/2018 đang chung sống cùng ông C, khi ly hôn ông yêu cầu được nuôi dưỡng cháu T1, không yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con chung.
Cháu Tạ Thị Trinh T1 từ trước đến nay đều do ông C chăm lo, điều kiện hoàn cảnh sống của cháu tốt, cháu có nguyện vọng được sống chung với cha là ông C. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét nguyện vọng, điều kiện hoàn cảnh sống của cháu nên giao cháu cho ông C trực tiếp nuôi dưỡng đến khi trưởng thành là phù hợp và tốt nhất với cháu. Bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Bà T không trực tiếp nuôi con chung có quyền thăm nom con chung, không ai có quyền cản trở việc thăm nom con chung của bà T.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Ông C tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Sau này, nếu có phát sinh tranh chấp sẽ được khởi kiện ở vụ kiện khác sau khi ly hôn.
[5] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc ông C phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình; Bà T không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 và khoản 3 Điều 68, khoản 4 Điều 147, khoản 1 và khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 9, Điều 53, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Tạ Chí C về việc yêu cầu được ly hôn với bà Võ Thị Cẩm T.
2. Về con chung: Giao con chung tên Tạ Thị Trinh T1, sinh ngày 26/4/2018 cho ông Tạ Chí C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi trưởng thành. Bà Võ Thị Cẩm T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở. Bà T phải tôn trọng quyền được sống cùng ông C của cháu T1.
3. Về án phí: Ông Tạ Chí C phải nộp 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình. Ông có dự nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0005536 ngày 21/8/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trần Văn Thời, nay được chuyển thu án phí.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Văn Đen |
Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp xin ly hôn
- Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẦN VĂN THỜI, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp xin ly hôn
